Nông nghiệp thông minh không còn là khẩu hiệu
Nông nghiệp thông minh là mô hình sản xuất sử dụng dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), cảm biến và tự động hóa để tối ưu tưới tiêu, bón phân, phòng trừ dịch hại và quản lý chuỗi giá trị, qua đó giảm lãng phí tài nguyên, tăng năng suất, nâng chất lượng và hướng tới nông nghiệp bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Điều đáng nói là các tỉnh không còn đứng ở mức thử nghiệm tượng trưng: Quảng Ngãi gắn nông nghiệp thông minh với triển khai Nghị quyết 57 về chuyển đổi số nông nghiệp, trong khi Bắc Ninh chốt hẳn chỉ tiêu đến 2030 cho các mô hình tưới tiêu thông minh và IoT giám sát cây trồng. Câu hỏi không còn là “có làm hay không”, mà là “làm thế nào để nông dân hưởng lợi thật sự từ AI nông nghiệp Việt Nam”.

Quảng Ngãi: Dữ liệu số là “hệ thần kinh” của nông nghiệp bền vững
Khác với cách làm manh mún, Quảng Ngãi chọn đi từ hạ tầng và dữ liệu trước rồi mới nói đến nông nghiệp thông minh. Theo Sở Khoa học và Công nghệ, khi triển khai Nghị quyết 57, tỉnh đã ban hành nhiều kế hoạch phát triển hạ tầng số, dữ liệu số, chính quyền số và ứng dụng AI. Mạng 3G, 4G phủ tới 99,7%, 5G đạt khoảng 87% khu trung tâm xã và 80,3% dân số dùng Internet – đây là điều kiện tiên quyết để IoT giám sát cây trồng hoạt động. Tỉnh hiện có 2.725 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động, nhiều đơn vị đã đưa IoT vào sản xuất, kinh doanh. Quan trọng hơn, Quảng Ngãi coi dữ liệu đất đai, tài nguyên nước, môi trường, phòng chống thiên tai là “tài nguyên mới”, dùng để thiết kế nông nghiệp bền vững thay vì phản ứng bị động.
Trong tài nguyên nước, 99 trạm đo mưa tự động, 11 trạm quan trắc mực nước và 6 trạm cảnh báo lũ, ngập úng đang truyền dữ liệu thời gian thực. Đây không chỉ là thiết bị đo lường; nếu gắn với AI dự báo, chúng trở thành nền cho các hệ thống tưới tiêu thông minh quyết định tưới – xả dựa trên dự báo mưa và mực nước. Ở môi trường, dữ liệu từ 56 trạm quan trắc nước thải và khí thải của 29 doanh nghiệp được kết nối trực tiếp về cơ quan quản lý, cho thấy cách tiếp cận “giám sát bằng dữ liệu” thay vì kiểm tra thủ công. Đặc biệt, cơ sở dữ liệu đất đai đã đồng bộ hơn 1,67 triệu thửa đất không gian và gần 1,56 triệu thửa thuộc tính, làm sạch hơn 1,15 triệu hồ sơ và số hóa hơn 885.000 hồ sơ.

Từ dữ liệu đến đồng ruộng: Quảng Ngãi từng bước đưa AI và IoT vào sản xuất
Nếu dữ liệu là nền, thì nông nghiệp thông minh chỉ có ý nghĩa khi chạm đến người dân. Ứng dụng VBDLIS gắn với hệ thống xử lý thủ tục hành chính giúp rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ đất đai, nâng chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp. Tỉnh đặt mục tiêu đến 2026 giảm 50% thời gian và chi phí thủ tục nhờ khai thác, tái sử dụng dữ liệu số. “Mục tiêu đến 2026 là giảm 50% thời gian và chi phí thủ tục hành chính thông qua khai thác và tái sử dụng dữ liệu số”. Đây là câu chuyện rất đời thường: ít đi lại hơn, bớt chi phí, nông dân có thêm thời gian chăm ruộng thay vì chờ giấy tờ.
Ở sản xuất, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang dần áp dụng công nghệ Cách mạng công nghiệp 4.0 như AI, IoT, blockchain, cảm biến, drone. AI được nghiên cứu để dự báo sâu bệnh cây trồng và tích hợp vào hệ dữ liệu chuyên ngành phục vụ quản lý, điều hành – đây chính là bước đầu của AI nông nghiệp Việt Nam tại cấp tỉnh. Hướng tới tương lai, ngành này sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ sở dữ liệu, tích hợp vào Trung tâm điều hành thông minh (IOC) của tỉnh; phát triển mô hình sản xuất thông minh theo chuỗi giá trị; khuyến khích VietGAP, GlobalGAP; phát động phong trào “Dân hiểu số” nâng kỹ năng số cho nông dân; mở rộng ứng dụng AI, IoT, blockchain, cảm biến, drone trong quản lý sản xuất, cảnh báo rủi ro và truy xuất nguồn gốc nông sản.

Bắc Ninh: Lộ trình rõ ràng với tưới tiêu thông minh và IoT giám sát cây trồng
Nếu Quảng Ngãi nổi bật ở nền tảng dữ liệu và quản lý, thì Bắc Ninh tạo dấu ấn bằng mục tiêu cụ thể đến 2030 cho nông nghiệp thông minh. Theo Kế hoạch 319/KH-UBND do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Xuân Lợi ký ban hành, tỉnh sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp – từ sản xuất, chế biến, bảo quản đến tiêu thụ và quản lý nhà nước. Kế hoạch này nhằm triển khai Chỉ thị 14-CT/TU về tăng cường khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Mục tiêu tổng quát là hình thành hệ thống nông nghiệp thông minh, hiện đại, xanh, tuần hoàn và bền vững, chứ không chỉ dừng ở việc “gắn mác công nghệ cao” cho vài mô hình trình diễn.
Một nhiệm vụ then chốt là xây dựng hệ thống dữ liệu số phục vụ sản xuất và quản lý nông nghiệp, hoàn thành số hóa, kết nối, chia sẻ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành đến 2030. Tất cả mã vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sẽ được quản lý trên nền tảng số; hơn 60% vùng sản xuất tập trung dự kiến áp dụng nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc. Trên đồng ruộng, Bắc Ninh lên kế hoạch đưa AI, IoT, dữ liệu lớn, blockchain, drone, cảm biến thông minh, GIS, viễn thám, tự động hóa, robot vào các khâu phù hợp. Đáng chú ý nhất là chỉ tiêu đến 2030: ít nhất 20 mô hình nông nghiệp công nghệ cao, 15 mô hình tưới tiêu thông minh, 5 mô hình áp dụng AI và IoT giám sát sản xuất cây trồng.

Từ thí điểm đến diện rộng: Điều kiện để nông nghiệp thông minh không “chết yểu”
Nhìn tổng thể, cả Quảng Ngãi và Bắc Ninh đều đang chuyển từ giai đoạn thí điểm rời rạc sang triển khai có lộ trình. Các mô hình sản xuất thông minh theo chuỗi giá trị đang được đẩy mạnh, còn Bắc Ninh xác định rõ rằng 20 mô hình nông nghiệp công nghệ cao, 15 tưới tiêu thông minh và 5 mô hình AI/IoT giám sát cây trồng chỉ là bãi thử để đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng. Khi dữ liệu được kết nối và sử dụng hiệu quả, người sản xuất có thêm công cụ ra quyết định chính xác, giảm chi phí, kiểm soát chất lượng và chủ động hơn trước biến động thị trường.
Tuy vậy, nguy cơ lớn nhất là các mô hình nông nghiệp thông minh bị “đóng khung” trong dự án nếu không có cơ chế nhân rộng, đào tạo liên tục và hạ tầng duy trì. Nông nghiệp thông minh chỉ thực sự giảm tiêu hao tài nguyên, tăng năng suất và bền vững khi AI, IoT, tưới tiêu thông minh trở thành công cụ thường ngày của hợp tác xã và nông dân, chứ không phải thiết bị trưng bày. Điều các tỉnh đang làm đúng là coi dữ liệu và kỹ năng số của người dùng cuối là trọng tâm, chứ không chỉ là mua sắm thiết bị. Nếu giữ được hướng đi này, AI nông nghiệp Việt Nam sẽ không phải là khẩu hiệu, mà là nền sản xuất mới – chính xác hơn, xanh hơn và ít tổn thương hơn trước khí hậu lẫn thị trường.







