Thông tư mới: quản lý nghiên cứu khoa học xoay trục sang ứng dụng
Đổi mới quản lý nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học là việc chuyển trọng tâm từ chăm chút từng đề tài trong phòng thí nghiệm sang quản lý toàn bộ quy trình nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và đưa kết quả ra ứng dụng thực tiễn, gắn với chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến nhân dân cho dự thảo Thông tư về quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Bộ tài trợ, đặt hàng. Điểm cốt lõi không phải bổ sung thêm vài thủ tục, mà là thay đổi tư duy quản lý: từ "quản lý đề tài" sang "quản lý dòng chảy giá trị" của tri thức. Thông tư mới được xây dựng để thay thế Thông tư số 15/2024 trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025. Nếu không dám đặt mục tiêu sản phẩm đi ra thị trường, hệ thống quản lý nghiên cứu sẽ tiếp tục "nuôi" công bố khoa học mà bỏ đói đời sống và doanh nghiệp.

Mở rộng “sân chơi” cho đại học tư thục và nhiệm vụ đổi mới sáng tạo
Dự thảo Thông tư mới tạo hành lang pháp lý mới cho quản lý nghiên cứu khoa học khi phạm vi áp dụng được mở rộng, bao gồm cả các cơ sở giáo dục đại học tư thục, bên cạnh các đơn vị trực thuộc Bộ. Đây không chỉ là động thái kỹ thuật, mà là lựa chọn chính trị: nếu coi tri thức là tài sản quốc gia, thì không thể tiếp tục “khoanh vùng” nguồn lực nghiên cứu trong hệ thống công lập. Theo dự thảo, quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bao trùm toàn bộ các khâu: tài trợ, đặt hàng, thẩm định, giao nhiệm vụ, quản lý, tổ chức thực hiện, chấm dứt, thanh lý và đánh giá. Khác với Thông tư số 15 vốn tập trung vào đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ, văn bản mới bổ sung thêm nhiệm vụ đổi mới sáng tạo như một loại hình nhiệm vụ riêng. Nhóm nhiệm vụ này hướng tới đổi mới công nghệ, phát triển quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao năng suất, chất lượng và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, qua đó nâng cao khả năng ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Cách mở rộng “sân chơi” này nếu được triển khai nghiêm túc sẽ kéo thêm doanh nghiệp, nhà đầu tư và cả khu vực tư thục vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thay vì để họ đứng ngoài cuộc.

Yêu cầu mới: nghiên cứu phải ra công nghệ, quy trình và sản phẩm thị trường
Thông tư dự thảo phân loại rõ các nhóm nhiệm vụ và siết yêu cầu sản phẩm đầu ra tương ứng. Với nghiên cứu cơ bản, sản phẩm phải gắn với công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín và hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh. Đó là chuẩn mực tối thiểu để giữ chất lượng học thuật trong bối cảnh hội nhập. Quan trọng hơn, với nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, yêu cầu được đặt thẳng vào khả năng thoát khỏi phòng thí nghiệm: công nghệ, quy trình, sản phẩm, giải pháp hoặc mô hình phải có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa. Dự thảo nhấn mạnh đây là yêu cầu bắt buộc đối với nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học. Nói một cách thẳng thắn, sẽ không còn nhiều chỗ cho những đề tài ứng dụng mà kết quả chỉ nằm trong báo cáo tổng kết. Qua đó, kết quả nghiên cứu được kỳ vọng có thêm cơ hội ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa. Nếu mô hình hợp tác nhà trường – nhà khoa học – doanh nghiệp – nhà đầu tư thực sự vận hành, người học và người dùng cuối sẽ là những người hưởng lợi trực tiếp khi sản phẩm khoa học bước vào sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Cơ chế chấp nhận rủi ro: cú chuyển cần thiết để khuyến khích đổi mới sáng tạo
Điểm táo bạo nhất của dự thảo là đưa cơ chế chấp nhận rủi ro vào khuôn khổ quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thay vì mặc định mọi kết quả không đạt mục tiêu là thất bại phải quy trách nhiệm, văn bản cho phép chấp nhận rủi ro dẫn tới kết quả không đạt mục tiêu đề ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đây là sự thay đổi tư duy mang tính nền tảng: nghiên cứu mà không được quyền "làm hỏng" thì sẽ không bao giờ có đột phá. Theo dự thảo, cơ chế chấp nhận rủi ro tạo cơ sở khuyến khích nghiên cứu mới, nghiên cứu có tính thử nghiệm và các hoạt động đổi mới sáng tạo, đồng thời phân biệt rủi ro khoa học với vi phạm trong quản lý, tổ chức thực hiện. Đối với nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, Hội đồng xét tài trợ, đặt hàng và tổ thẩm định có thể có sự tham gia của doanh nghiệp, nhà đầu tư và chuyên gia về đổi mới sáng tạo; các nhiệm vụ có doanh nghiệp, nhà đầu tư, quỹ đầu tư hoặc chuyên gia giàu kinh nghiệm về ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa được ưu tiên. Cách tiếp cận này hướng tới tăng cường hiệu quả mô hình hợp tác giữa nhà trường – nhà khoa học – doanh nghiệp – nhà đầu tư, hạn chế tình trạng kết quả nghiên cứu chỉ dừng ở công bố khoa học hoặc trong phạm vi phòng thí nghiệm. Nếu cơ chế rủi ro được áp dụng minh bạch, nó sẽ là "tấm khiên" bảo vệ những người dám thử cái mới, đồng thời là "tấm lọc" loại bỏ những vi phạm quản lý núp bóng nghiên cứu.
Tác động thực tế: khi kết quả nghiên cứu buộc phải bước ra đời sống
Nhìn từ góc độ người học và doanh nghiệp, thay đổi lớn nhất của Thông tư mới là chuyển hóa quản lý nghiên cứu khoa học thành công cụ tạo giá trị sử dụng thực sự. Khi mọi nhiệm vụ ứng dụng phải chứng minh khả năng chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm, các nhóm nghiên cứu buộc phải nghĩ đến thị trường ngay từ khâu thiết kế đề cương. Điều này có thể khiến một số nhà khoa học cảm thấy “bị kéo” khỏi vùng an toàn, nhưng lại mở ra cơ hội để công trình của họ sống lâu hơn trong dây chuyền sản xuất và đời sống. Tác động với người dùng bình thường sẽ không xuất hiện tức thì, nhưng định hướng tăng liên kết giữa nhà trường – nhà khoa học – doanh nghiệp – nhà đầu tư nhằm hạn chế tình trạng kết quả nghiên cứu chỉ dừng ở công bố hoặc trong phòng thí nghiệm là một lời cam kết chính sách. Qua đó, kết quả nghiên cứu được kỳ vọng có thêm cơ hội ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa. Nếu quá trình góp ý xã hội và triển khai sau này không làm loãng tinh thần đổi mới, Thông tư mới có thể trở thành cú hích để hệ đại học chuyển từ “sản xuất bằng cấp” sang “sản xuất giải pháp” cho nền kinh tế tri thức.





