Từ cây lâm nghiệp dài ngày đến mô hình “trà lá đàn hương”
Cây đàn hương lợi nhuận cao là một mô hình nông nghiệp thơm liệu trong đó nông dân không chỉ chờ khai thác lõi gỗ sau hơn 10 năm mà còn thu nhập từ cây thơm thông qua việc cắt lá, chế biến thành trà lá đàn hương để tạo dòng tiền sớm và giảm rủi ro tài chính trong suốt chu kỳ trồng dài. Sau khi nghỉ hưu, từ tình yêu với cây rừng, anh Phạm Quang Đại lên thôn Làng Lạnh, xã Cảm Nhân, tỉnh Lào Cai tìm một loại cây lâm nghiệp vừa gắn bó lâu dài, vừa phù hợp đất đai địa phương. Cơ duyên đến khi năm 2022 anh biết đến cây đàn hương, và đầu năm 2023, anh đưa giống lên Làng Lạnh trồng thử nghiệm khoảng 1 ha. Từ một thử nghiệm, mô hình nhanh chóng mở rộng thành vùng trồng đàn hương chuyên canh, mở ra cách nghĩ mới về kinh tế rừng dài ngày.
Làng Lạnh: kiếm tiền tỷ từ trà lá đàn hương trước khi có gỗ
Điểm táo bạo trong mô hình của Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Thành Lâm là không chờ đến khi lõi gỗ đàn hương đủ tuổi mà tận dụng lá và quả để “lấy ngắn nuôi dài”. Trên 6–7 ha hiện có, mỗi ha trồng khoảng 600 cây đàn hương xen 300 cây gù hương làm cây ký chủ và cây gỗ giá trị lâu năm. Sau khoảng 8 tháng, HTX bắt đầu cắt tỉa lá, vừa tạo tán, vừa thu nguyên liệu làm trà lá đàn hương. Họ phát triển hai dòng sản phẩm: trà búp đàn hương nguyên chất và trà túi lọc từ búp, lá làm nhỏ. Ở đợt thu gần đây, khoảng 3,5 tấn nguyên liệu tươi cho 1 tấn trà thành phẩm, mang lại doanh thu gần 500 triệu đồng. Theo tính toán, nguồn thu từ lá có thể đạt trên 1 đến gần 2 tỷ đồng mỗi năm – một con số cho thấy cây đàn hương lợi nhuận không còn là lý thuyết.
Trích dẫn đáng chú ý: “Từ sản lượng và giá bán hiện tại, nguồn thu từ lá đàn hương có thể đạt trên 1 tỷ đồng, gần 2 tỷ đồng/năm”. Đây không chỉ là doanh thu trên giấy, bởi trà làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó tại thị trường Hà Nội. Mô hình hiện cũng tạo việc làm cho lao động tại chỗ với thu nhập khoảng 7–8 triệu đồng/tháng, chứng minh kinh tế trà lá đàn hương mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng chứ không dừng ở lợi nhuận của một HTX.
Trà lá đàn hương: kéo dài “đường cong lợi nhuận” và giảm rủi ro
Vấn đề lớn nhất của cây lâm nghiệp dài ngày là khoảng trống dòng tiền: phải chờ 10–13 năm mới khai thác lõi gỗ đàn hương. Trong khoảng đó, phần lớn nhà đầu tư nhỏ khó đủ sức “nín thở” vì chi phí chăm sóc, phòng bệnh, nhân công. Bằng việc thu hoạch lá định kỳ 2–2,5 tháng/lần và chế biến thành trà, HTX Thành Lâm đã biến một cây trồng vốn chỉ có giá trị ở lõi gỗ thành cây cho thu nhập từ cây thơm liên tục. Lá càng cắt, cây càng phân cành, tạo tán; chu kỳ thu hái mỗi năm 4–5 đợt, trừ mùa đông hạn chế thu theo sinh trưởng cây.
Về kỹ thuật, quy trình chăm sóc được siết chặt để đảm bảo chất lượng trà: mùa mưa phải giữ gốc sạch, kiểm soát nấm bệnh; đặc biệt, khoảng 2 tháng trước thu hoạch không dùng bất kỳ loại thuốc nào, kể cả sinh học. Điều này cho thấy nông nghiệp thơm liệu muốn đi đường dài phải đặt niềm tin người tiêu dùng lên trên mọi tối ưu ngắn hạn. Khi lõi gỗ vẫn là “đích đến” của tương lai xa, những lứa lá được chế biến thành trà đang kéo dài đường cong lợi nhuận, giảm áp lực tài chính và giúp nông dân dám đầu tư bài bản hơn vào cây đàn hương.
Bài học từ húng quế, sả Java: nông nghiệp thơm liệu phải gắn với chế biến
Câu chuyện Làng Lạnh không đứng một mình; tại xã Vạn An, Nghệ An, những cánh đồng húng quế, sả Java đang thay thế ngô, sắn, tạo một làn sóng nông nghiệp thơm liệu mới. Người dân trồng một lần nhưng thu 5–6 lứa/năm nhờ khả năng tái sinh nhanh, không phải làm đất, xuống giống lại sau mỗi vụ. HTX dược liệu tại đây cung cấp giống, kỹ thuật, thu mua cây tươi với giá cam kết, đồng thời đưa nguyên liệu vào chưng cất tinh dầu.
Theo tính toán, mỗi ha húng quế cho doanh thu khoảng 180–240 triệu đồng/năm, lợi nhuận 120–150 triệu đồng/ha/năm, cao hơn 2–3 lần so với ngô, sắn. Với sả Java, năng suất có thể trên 100 tấn cây tươi/ha/năm, doanh thu khoảng 200 triệu đồng/ha/năm. Quan trọng hơn, địa phương định hướng đầu tư nhà máy chế biến tinh dầu công nghệ cao, kỳ vọng nâng tỷ lệ chế biến sâu và mở rộng vùng nguyên liệu. Bài học rõ ràng: thu nhập từ cây thơm chỉ thật sự bền khi gắn ruộng đồng với nhà máy, từ cây tươi đến sản phẩm tinh dầu hoặc trà có giá trị cao, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào bán nguyên liệu thô.

Từ Làng Lạnh ra cả nước: mở đường cho cây thơm hai mục đích
Điểm chung giữa đàn hương ở Làng Lạnh và húng quế, sả Java ở Vạn An là đều tận dụng “hai đời sống” của cây thơm: vừa là cây nguyên liệu dài ngày, vừa là nguồn sản phẩm ngắn hạn (trà, tinh dầu) cho dòng tiền hiện tại. Ở Làng Lạnh, từ 1 ha thử nghiệm ban đầu, vùng đàn hương đã mở rộng lên 6–7 ha; mục tiêu tiếp theo là kéo thêm hộ dân tham gia, mở rộng vùng nguyên liệu để đăng ký mã số vùng trồng, hướng tới thị trường xuất khẩu. Còn đích đến dài hạn vẫn là lõi gỗ sau khoảng 10 năm trở đi.
Tương lai của cây đàn hương lợi nhuận không nằm ở việc chặt bán gỗ càng nhiều càng tốt, mà ở cách tổ chức mô hình từ lá đến lõi, từ trà lá đàn hương đến tinh dầu, mỹ phẩm. Trích dẫn đáng chú ý: “Nếu duy trì được đầu ra ổn định và nâng tỷ lệ chế biến sâu, những cánh đồng húng quế, sả Java không chỉ giúp người dân có thêm lựa chọn thay thế ngô, sắn mà còn mở ra hướng phát triển vùng nguyên liệu gắn với sản phẩm tinh dầu có giá trị cao hơn”. Khi nông dân dám nghĩ theo hướng hai mục đích – vừa sản xuất nông nghiệp thơm liệu, vừa tham gia chuỗi chế biến – cây thơm sẽ không còn là cuộc chơi đầy rủi ro mà trở thành một chiến lược phát triển kinh tế nông thôn dài hạn.






