Tìm đúng nguyên nhân là bước đầu của điều trị
Vô kinh di truyền là tình trạng không xuất hiện kinh nguyệt ở người đến tuổi sinh sản do biến thể gene hoặc bất thường nhiễm sắc thể làm rối loạn hormone sinh sản hay chức năng buồng trứng.
Ý nghĩa của xét nghiệm gene không nằm ở việc thay thế thăm khám, mà ở khả năng giải thích những dấu hiệu vốn dễ bị xếp vào nhóm “không rõ nguyên nhân”. Vô kinh nguyên phát có thể liên quan đến bất thường đường sinh dục, rối loạn nhiễm sắc thể, suy buồng trứng, vùng dưới đồi – tuyến yên hoặc thiếu hụt hormone sinh sản. Trường hợp chị Hằng, 30 tuổi, cho thấy vì sao cần tìm sâu hơn: chị không có kinh từ năm 17 tuổi, dự trữ buồng trứng thấp và hormone hướng sinh dục thấp, trong khi hình thái tuyến yên bình thường. Với phụ nữ hiếm muộn, kinh nguyệt thưa dần hoặc có tiền sử mất thai, xác định nguyên nhân có thể giúp bác sĩ chọn hướng hỗ trợ sinh sản và đánh giá nguy cơ di truyền phù hợp hơn.
Giải trình tự hơn 22.000 gene tìm ra hội chứng Kallmann
Khi biểu hiện lâm sàng gợi ý một rối loạn bẩm sinh nhưng chưa đủ để xác định nguyên nhân, xét nghiệm gene diện rộng có thể cung cấp đầu mối quan trọng. Hội chứng Kallmann liên quan đến thiếu hụt GnRH, khiến cơ thể không tạo đủ hormone để khởi động và duy trì chức năng sinh sản.
Chị Hằng được giải trình tự hơn 22.000 gene; kết quả phát hiện biến thể dị hợp tử trên gene FGFR1 gây hội chứng Kallmann. Đây là bước chuyển từ nghi ngờ dựa trên triệu chứng sang chẩn đoán có căn cứ di truyền. Chồng và bố mẹ chị cũng được xét nghiệm để đánh giá nguy cơ truyền biến thể cho thế hệ sau. Sau đó, nhóm điều trị xây dựng xét nghiệm PGT-M riêng cho gia đình, nhằm chọn phôi không mang biến thể trước khi chuyển. Chu kỳ IVF đầu thu được 10 cụm noãn và 5 phôi, nhưng chưa có phôi đủ điều kiện; ở chu kỳ sau, hai trong bốn phôi không mang biến thể. Chị Hằng mang thai và sinh con gái nặng 3 kg.
Bất thường nhiễm sắc thể X cũng có thể ảnh hưởng dự trữ buồng trứng
Không phải mọi bất thường di truyền đều biểu hiện bằng vô kinh. Hội chứng “siêu nữ” là tình trạng có thêm một nhiễm sắc thể X, bộ nhiễm sắc thể 47,XXX; nhiều người không có dấu hiệu rõ rệt, nhưng một số trường hợp gặp rối loạn kinh nguyệt hoặc suy giảm dự trữ buồng trứng. Tỷ lệ ước tính khoảng 1/1.000 người và phần lớn trường hợp phát sinh ngẫu nhiên, không di truyền từ cha mẹ.
Chị Thu, 33 tuổi, có AMH 0,5 ng/mL, thấp hơn mức 2–6,8 ng/mL được nêu cho phụ nữ khỏe mạnh dưới 38 tuổi. Sau sáu năm không đậu thai và kinh nguyệt ngày càng thưa, xét nghiệm phát hiện bộ nhiễm sắc thể 47,XXX. Chu kỳ IVF đầu không thu được noãn sử dụng được; sau khi điều chỉnh phác đồ, nhóm điều trị tạo được bốn phôi nang và sàng lọc PGT-A ghi nhận hai phôi bình thường, hai phôi thể khảm 60%. Một phôi có kết quả bình thường được chuyển, và chị sinh mổ bé trai khỏe mạnh nặng 3,1 kg vào tháng 8 vừa qua.
IVF và sàng lọc phôi mở thêm lựa chọn, không thay thế theo dõi y khoa
Hai trường hợp cho thấy xét nghiệm trước điều trị có thể giúp phân biệt nguy cơ nhiễm sắc thể với nguy cơ do một biến thể gene cụ thể. PGT-A đánh giá tình trạng nhiễm sắc thể của phôi; PGT-M được thiết kế theo biến thể cần tìm trong gia đình. Khi kết hợp với thụ tinh ống nghiệm, các kỹ thuật này giúp bác sĩ chọn phôi phù hợp để chuyển, như trong hành trình của chị Thu và chị Hằng. Đây là cơ hội sinh con khỏe mạnh cho một số gia đình, nhưng không nên hiểu sàng lọc là lời bảo đảm tuyệt đối; tư vấn di truyền và theo dõi thai kỳ vẫn cần được cá thể hóa.
Phụ nữ có kinh nguyệt thưa dần, dự trữ buồng trứng suy giảm hoặc khó mang thai nên thăm khám sớm. Bé gái sau 15 tuổi chưa có kinh, hoặc sau 13 tuổi chưa có dấu hiệu dậy thì, cần được khám chuyên khoa. Với người mắc hội chứng Kallmann, việc điều trị không dừng ở sinh con: sau thời gian nuôi con bằng sữa mẹ, chị Hằng cần tái khám để tiếp tục bổ sung hormone và tạo vòng kinh nhân tạo. Chẩn đoán gene chính xác vì thế có giá trị kép: hỗ trợ lựa chọn phôi trong hành trình sinh sản và nhắc người bệnh tiếp tục chăm sóc sức khỏe lâu dài.






