Xanh hóa phải bắt đầu từ khả năng đo lường
Logistics xanh là cách tổ chức vận chuyển, khai thác cảng và lưu kho nhằm giảm tác động môi trường, đồng thời dùng dữ liệu xuyên suốt để đo hiệu quả của từng mắt xích trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, doanh nghiệp không thể chứng minh mình bền vững chỉ bằng một lời tuyên bố hay hình ảnh phương tiện mới. Tại phiên chuyên đề “Chuỗi giá trị toàn cầu bền vững: Logistics xanh” ngày 27/10, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Hoàng Nguyên Dinh nhận định các chuỗi giá trị toàn cầu đang tái cấu trúc theo hướng xanh hơn, minh bạch hơn và thông minh hơn. Đây không còn là lựa chọn để làm đẹp hồ sơ: chuyển đổi xanh và minh bạch đang trở thành điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường và tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Khi lợi thế chi phí sản xuất suy giảm và yêu cầu về phát thải tăng lên, năng lực cạnh tranh phải được chứng minh bằng dữ liệu, không phải khẩu hiệu.

Dữ liệu liền mạch giúp giảm phát thải thực tế
Một lô hàng đồ gỗ gồm 10 container đã sẵn sàng xuất khẩu sang Mỹ vẫn có thể lỡ chuyến tàu nếu nhà máy, đơn vị vận tải và cảng không nắm được lịch của nhau. Hàng chờ lâu kéo theo phương tiện chờ, nhiên liệu tiêu hao và chi phí lưu kho phát sinh. Tại Gemalink, cảng nước sâu thuộc cụm Cái Mép - Thị Vải, nơi tiếp nhận tàu container có tải trọng đến 250.000 DWT, câu chuyện này cho thấy quy mô hạ tầng không thể bù cho sự rời rạc trong vận hành. Kết nối dữ liệu logistics xanh giữa đơn hàng, tải trọng, hành trình, năng lượng tiêu thụ và lịch khai thác giúp các bên tối ưu tuyến, ghép tải, giảm xe chạy rỗng và theo dõi tác động môi trường từ kho đến cảng. Dữ liệu chính xác, đúng thời điểm cũng giúp hàng hóa bớt chờ và nhiên liệu được sử dụng hiệu quả hơn. Đó là giảm phát thải bằng cách làm cho cả chuỗi vận hành ăn khớp, thay vì chỉ thay một thiết bị.

Không có chuẩn chung, danh xưng xanh thiếu sức nặng
Khi mỗi doanh nghiệp tự chọn cách định nghĩa “xanh”, người mua hàng và đối tác khó phân biệt kết quả thật với tuyên bố tiếp thị. Cảng xanh, kho xanh hay logistics xanh cần được đánh giá theo tiêu chí chung, dựa trên số liệu có thể kiểm chứng như phát thải CO₂ và hiệu quả sử dụng năng lượng. Cùng với đó, một phép đo đáng tin cậy cần xác định số liệu nền, thời hạn đánh giá và các chỉ tiêu liên quan đến phát thải, năng lượng, chi phí trên đơn vị hàng hóa, giao đúng hạn và tổn thất hàng hóa. Minh bạch không đồng nghĩa với công bố thật nhiều dữ liệu; điều quan trọng là các bên dùng cùng phương pháp để so sánh và xác nhận kết quả. Nếu thiếu chuẩn mực, doanh nghiệp khó biết mình đã tiến bộ đến đâu, còn đối tác toàn cầu không có cơ sở tin vào cam kết. Ban hành tiêu chí logistics xanh vì thế là điều kiện để biến danh xưng thành trách nhiệm giải trình.

Thí điểm có dữ liệu trước khi nhân rộng
Đầu tư sà lan điện, xe điện trong cảng hay điện mặt trời trên mái kho có thể góp phần giảm phát thải, nhưng sẽ kém hiệu quả nếu hàng hóa vẫn chờ vì các bên không phối hợp. Theo ông Cao Hồng Phong, phương tiện xanh chỉ là công cụ hỗ trợ khi dữ liệu giữa chủ hàng, đơn vị vận tải và bến cảng chưa thông suốt. Hướng đi khả thi hơn là thí điểm hành lang Cái Mép - Thị Vải, kết nối các trung tâm công nghiệp TP.HCM và Bình Dương, đồng thời thử nghiệm nền tảng số theo dõi container lạnh chở nông sản từ Đồng bằng sông Cửu Long đến cảng. Kết quả thí điểm có thể giúp chọn giải pháp hữu ích rồi nhân rộng, thay vì đầu tư dàn trải. Kết nối cũng quan trọng với doanh nghiệp nhỏ: các nhà xuất khẩu có lượng hàng chỉ bằng nửa container cần tiếp cận dịch vụ gom hàng, vận tải và thủ tục phù hợp. Một chuỗi cung ứng bền vững phải bao gồm cả những đơn vị này. Kết luận rất rõ: cam kết xanh chỉ đáng tin khi có chuẩn đo chung, dữ liệu chia sẻ và kết quả kiểm chứng được.






