Đọc đúng con số trước khi đánh giá tiến độ
Trường chuẩn quốc gia là cơ sở giáo dục được công nhận đáp ứng các tiêu chí quốc gia về chất lượng và điều kiện hoạt động; tỷ lệ trường đạt chuẩn vì vậy cho biết mức độ bao phủ của chuẩn chất lượng, chứ không tự nó phản ánh đầy đủ trải nghiệm học tập. An Giang hiện có 175/298 trường đạt chuẩn, tương đương 58,72%; riêng khối phổ thông là 142/250 trường, đạt 56,80%.
Đặt cạnh thông tin mục tiêu năm 2026, cần phân biệt hai phạm vi và mốc báo cáo. Tại cuộc họp chiều 23/10, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Minh Thúy nghe báo cáo kết quả chín tháng và giải pháp cho thời gian còn lại của năm; báo cáo nêu 142 trường phổ thông đạt chuẩn, đang rà soát thêm 16 trường để hướng tới 158 trường, bằng 63,2% tổng số trường. Trong khi đó, số 175/298 là thống kê hiện trạng ở một nguồn tin khác, bao gồm toàn tỉnh và ghi riêng khối phổ thông. Vì vậy, không thể coi mục tiêu 158 là đích cuối cao hơn số hiện có: nguồn hiện có chưa giải thích rõ thời điểm chốt, phạm vi thống kê hay cách cập nhật giữa hai số liệu.

58,72% là tiến bộ, nhưng chưa phải câu trả lời về chất lượng
Tỷ lệ gần sáu trên mười cho thấy mạng lưới trường chuẩn đã có độ phủ đáng kể, song vẫn còn 123 trong tổng số 298 trường chưa được tính vào nhóm đạt chuẩn theo số liệu hiện tại. Đây là khoảng cách đủ lớn để mục tiêu không dừng ở việc hoàn tất hồ sơ công nhận: điều kiện học tập và khả năng duy trì chất lượng ở các cơ sở còn lại mới là thước đo người dân cảm nhận trực tiếp.
Bối cảnh sắp xếp trường lớp càng khiến việc đọc tỷ lệ cần thận trọng. Sau sắp xếp, tỉnh giảm 618 đầu mối trường, đồng thời tổ chức 618 phân hiệu và 860 điểm lẻ. Với phụ huynh, thay đổi mạng lưới có thể liên quan đến nơi học và cách tổ chức trường; vì thế con số đạt chuẩn chỉ có ý nghĩa khi đi cùng khả năng tiếp cận lớp học, giáo viên và điều kiện dạy học tại từng địa bàn. Ngành giáo dục được yêu cầu xử lý khó khăn trong tổ chức mạng lưới, thiếu giáo viên, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và nâng chất lượng giáo dục.
Một chỉ dấu thực tế khác là dạy học hai buổi mỗi ngày đạt 85,37% số trường, nhưng mức này chênh rõ giữa tiểu học 94,47%, THCS 35,36% và THPT 41,65%. Bình quân toàn tỉnh vì vậy chưa nói hết khoảng cách giữa các cấp học.

Mục tiêu 158 trường và bài toán trách nhiệm
Mốc 158 trường trong năm 2026 được đưa ra cùng lúc ngành giáo dục rà soát 16 trường và tỉnh yêu cầu khẩn trương hoàn thành chỉ tiêu trường chuẩn quốc gia. Lãnh đạo tỉnh cũng yêu cầu rà soát tiến độ thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW, xác định nhiệm vụ chậm và trách nhiệm liên quan. Đây là tín hiệu cho thấy mục tiêu không chỉ là con số tổng kết; tiến độ và khâu chịu trách nhiệm cần được nhìn rõ.
Áp lực thực thi không chỉ nằm ở trường chuẩn. Trong báo cáo tại cuộc họp, ngành hoàn thành 13/16 nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đạt 81,25%; tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp đạt 34.493/40.000 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 74,75%, còn lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 19,92%, đều chưa đạt mục tiêu đã đặt ra theo báo cáo. Điều đó khiến yêu cầu về trường chuẩn nằm trong một chương trình rộng hơn, nơi nguồn lực và năng lực triển khai phải được cân đối.
Tiến độ các nhiệm vụ của đề án nâng cao chất lượng giáo dục giai đoạn 2026–2030 cũng chưa đồng đều: tỉnh đã hoàn thành 20/59 nhiệm vụ, đang thực hiện 25/59 và chưa triển khai 14/59, phần lớn thuộc giai đoạn 2026–2030 hoặc chờ cơ chế, hướng dẫn từ Trung ương.
Đích đến nên là trường học tốt hơn, không chỉ nhiều hơn
Một số kết quả cho thấy giáo dục An Giang có nền tảng đáng ghi nhận: tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đạt 99,82%, trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,66%, học sinh lớp 5 lên lớp 6 đạt 98,48%, còn học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 đạt 85,14%. Tỉnh cũng báo cáo tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2026 là 98,84%, điểm bình quân 5,686, xếp thứ 19 toàn quốc và thứ ba Đồng bằng sông Cửu Long. Những kết quả này bổ sung bức tranh, nhưng không thay thế việc cải thiện điều kiện tại từng trường chưa đạt chuẩn.
Hạ tầng đang được đầu tư: ba trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp biên giới giai đoạn 1 đã đưa vào sử dụng, sáu trường giai đoạn 2 đang xây dựng, dự kiến hoàn thành trước ngày 30/8/2027. Song song, số hóa học bạ đạt 641.125 hồ sơ, tương đương 99,15%; hơn 23.000 tài khoản AI được kích hoạt phục vụ giảng dạy. Đây là công cụ hỗ trợ, không phải bằng chứng tự động rằng chất lượng ở mọi nơi đã đồng đều.
Kết luận hợp lý nhất là 58,72% vừa cho thấy bước tiến vừa nhắc tỉnh về phần việc còn lại. Muốn đánh giá đúng tốc độ, An Giang cần công khai rõ mốc thống kê và phạm vi của mục tiêu 158 trường, rồi gắn mỗi con số với tiến độ nâng điều kiện dạy học và khắc phục thiếu giáo viên. Trường chuẩn quốc gia chỉ thật sự có ý nghĩa khi chuẩn mực được chuyển thành trải nghiệm học tập tốt hơn cho học sinh.






