Khi chuyển đổi số cộng đồng bắt đầu từ người khó tiếp cận công nghệ nhất
Chuyển đổi số cộng đồng trong nông thôn là quá trình xây dựng và phổ biến kỹ năng số nông thôn đến từng người dân, đặc biệt là người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và những nhóm ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ, thông qua các cán bộ thôn số hóa, tổ công nghệ số cộng đồng và các mô hình tại chỗ để bảo đảm công nghệ gắn với đời sống hằng ngày, không để ai bị bỏ lại phía sau trong xã hội số đang hình thành. Điểm đáng nói ở những mô hình hiện nay là cách tiếp cận lấy người yếu công nghệ làm trung tâm, chứ không phải những người dùng thành thạo. Tuyên Quang đưa phong trào “Bình dân học vụ số” vào nhà văn hóa thôn, đến tận hộ gia đình với đúng nghĩa “cầm tay chỉ việc”, từ kết nối mạng, cài ứng dụng, tạo tài khoản đến thanh toán không dùng tiền mặt và nhận diện lừa đảo trên không gian mạng. Phổ cập công nghệ vùng sâu sẽ không thành công nếu chỉ dừng ở tuyên truyền; nó đòi hỏi thời gian, sự kiên nhẫn và trách nhiệm xã hội của chính những cán bộ địa phương sống cùng dân.
“Cầm tay chỉ việc”, “Ngày thứ 5 số” và sự thay đổi ở cấp thôn, xã
Những sáng kiến ở Tuyên Quang cho thấy chuyển đổi số cộng đồng chỉ có ý nghĩa khi chạm đến nhu cầu rất cụ thể của người dân. Tổ công nghệ số cộng đồng ở phường Minh Xuân không giảng lý thuyết mà giúp người dân truy cập nền tảng “Bình dân học vụ số”, tạo tài khoản, chọn khóa học, làm bài kiểm tra, đồng thời hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số và bảo vệ dữ liệu cá nhân ngay trên chính điện thoại của họ. Khi người hướng dẫn làm mẫu một lần, người dân tự thao tác nhiều lần, tâm lý e ngại công nghệ nhanh chóng giảm đi. Ở xã Yên Phú, việc gắn chuyển đổi số với cải cách hành chính cho thấy vì sao cán bộ thôn số hóa trở thành “hạt nhân số”. Trung tâm phục vụ hành chính công công khai thủ tục bằng mã QR, đẩy mạnh số hóa hồ sơ và thanh toán trực tuyến; kết quả là 100% hồ sơ thủ tục hành chính được giải quyết đúng và trước hạn, mức độ hài lòng của người dân đạt 100%. Các mô hình như “Ngày thứ 5 số”, “Mỗi thôn một điểm hỗ trợ kỹ năng số”, “Gia đình ba thế hệ thạo số” buộc chính quyền cơ sở phải ra khỏi trụ sở, đem công nghệ đến nơi người dân sống và làm việc.
“Thứ bảy vì dân”: hy sinh ngày nghỉ để xây kỹ năng số cho đồng bào vùng núi
Ở xã Huồi Tụ (Nghệ An), nơi đồng bào Mông, Thái, Khơ Mú sống rải rác trên các triền núi, phổ cập công nghệ vùng sâu không thể làm qua loa. Những cán bộ UBND và Công an xã cõng máy tính, thiết bị Wi-Fi đi đường rừng vào bản trong chương trình “Thứ bảy vì dân” cho thấy chuyển đổi số ở vùng khó khăn là công việc tay chân, tốn sức, chứ không phải vài buổi hướng dẫn trong hội trường. Nhiều người không có điện thoại thông minh, thậm chí không biết chữ, không nói tiếng Kinh, nên cán bộ gần như phải “làm thay” từ khởi tạo tài khoản, nhập dữ liệu đến xác thực thông tin. Theo chia sẻ của anh Vừ Bá Chi, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại Huồi Tụ chiếm tới 79,3%, biến kỹ năng số nông thôn ở đây thành bài toán gắn chặt với giảm nghèo. Tổ giúp việc chuyển đổi số luân phiên xuống bản không chỉ cập nhật dữ liệu VNeID, hỗ trợ thủ tục trên cổng dịch vụ công, mà còn hướng dẫn tạo gian hàng số, quảng bá chè Shan tuyết, bò, gà đen trên mạng xã hội và nền tảng công nghệ số. Khi đặc sản vùng cao hiện diện trên thương mại điện tử, người dân thấy lợi ích kinh tế rõ ràng, và đó mới là động lực để kỹ năng số đi vào thói quen.
Tổ Nông dân số và nền tảng “Nông dân Việt Nam”: từ cài ứng dụng đến thay đổi hành vi
Một nguy cơ thường gặp trong chuyển đổi số cộng đồng là coi số lượt cài ứng dụng là thước đo thành công. Các Hội Nông dân ở Quảng Ninh và Cần Thơ đã chọn hướng khác: xây lực lượng nông dân số chủ động, lấy thay đổi hành vi làm mục tiêu. Ở phường Quang Hanh, các Tổ Nông dân số được lập với phương châm “người thành thạo hỗ trợ người còn hạn chế”, huy động lực lượng trẻ giỏi công nghệ để kèm từng hội viên lớn tuổi trong việc dùng smartphone, ứng dụng và dịch vụ số. Họ không chỉ cài giúp app mà còn hướng dẫn cách khai thác nền tảng phục vụ sản xuất, kinh doanh, quảng bá sản phẩm, nâng cao an toàn trên mạng. Theo Báo Cần Thơ, hơn 197.000 hội viên đã cài đặt và sử dụng nền tảng số “Nông dân Việt Nam” trên điện thoại thông minh, qua đó cập nhật kiến thức nông nghiệp, khoa học kỹ thuật và kết nối tiêu thụ nông sản. Con số này có ý nghĩa khi đi kèm mạng lưới cán bộ Hội ở cấp tỉnh, thành phố và cơ sở duy trì tập huấn, hỗ trợ liên tục. Không có sự gắn bó giữa Hội Nông dân các cấp và cán bộ xã, phường, nền tảng số sẽ chỉ nằm im trên màn hình, thay vì trở thành công cụ điều hành Hội và thay đổi cách làm ăn của nông dân.

Từ “thôn điển hình số” đến gia đình ba thế hệ: xây văn hóa số tại chỗ
Mô hình “Thôn điển hình số” ở Việt Hương (xã Kép) cho thấy vì sao cán bộ thôn số hóa có thể thay đổi cả cách dân tiếp cận chính quyền. Khi nhà văn hóa thôn được bố trí máy tính, internet, máy in, bộ phát Wi-Fi, người dân không phải đi xa lên xã để làm thủ tục. Cán bộ thôn, đoàn viên thanh niên trở thành “giáo viên số” hướng dẫn định danh VNeID mức 2, dùng chữ ký số, thanh toán điện tử tiền điện, nước, nộp hồ sơ trực tuyến cho 25 dịch vụ công thiết yếu và nhiều thủ tục khác. Nhóm Zalo “Thôn điển hình số” biến loa truyền thanh thành các thông báo ngay trên điện thoại thông minh, khiến thông tin đến nhanh và linh hoạt hơn. Điều đáng chú ý là các mô hình này đều bám vào đời sống gia đình, cộng đồng: “gia đình ba thế hệ thạo số”, “mỗi đoàn viên – một trợ lý số”, “mỗi thôn một điểm hỗ trợ kỹ năng số”. Khi ông bà, cha mẹ, con cháu cùng luyện dân tộc thiểu số kỹ năng số, việc dùng dịch vụ công trực tuyến hay thương mại điện tử không còn là hoạt động cá nhân rời rạc, mà thành nếp sinh hoạt chung. Đây mới là bước chuyển khó nhất nhưng quan trọng nhất: biến chuyển đổi số cộng đồng từ phong trào thành văn hóa số tại chỗ, nơi công nghệ là phần tự nhiên của cuộc sống nông thôn.






