Đào tạo nghề thị trường là gì và vì sao quyết định cơ hội việc làm?
Đào tạo nghề thị trường là cách tổ chức chương trình, ngành nghề, phương pháp và địa điểm dạy nghề dựa trên nhu cầu lao động thực tế của doanh nghiệp, cộng đồng và từng vùng kinh tế, nhằm bảo đảm người học có kỹ năng làm được việc và tìm được việc làm sau tốt nghiệp, thay vì học theo những chương trình có sẵn nhưng xa rời nhu cầu tuyển dụng. Khi cơ cấu kinh tế địa phương thay đổi, nếu giáo dục nghề không kịp dịch chuyển theo các nhóm việc làm mới, mọi khẩu hiệu về “nguồn nhân lực chất lượng cao” chỉ nằm trên giấy. Vấn đề không còn là đào tạo được bao nhiêu lớp, bao nhiêu ngành, mà là tỉ lệ việc làm sau tốt nghiệp và mức độ phù hợp giữa nghề được đào tạo với công việc thực tế của người lao động.
Ninh Bình: 180 ngành nghề và áp lực giữ vững trên 85% việc làm sau tốt nghiệp
Ninh Bình là minh chứng rõ ràng nhất cho việc gắn đào tạo nghề với nhu cầu lao động có thể tạo ra việc làm sau tốt nghiệp. Toàn tỉnh hiện đào tạo hơn 180 ngành nghề thuộc 9 lĩnh vực, trong đó nhóm kỹ thuật – công nghiệp – xây dựng chiếm 44% cơ cấu. Tỉ lệ người học có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 85%, khoảng 70–75% làm đúng ngành được đào tạo, một số cơ sở vượt 90%. Đây là con số mà nhiều trường đại học phải ao ước. Nhưng mặt trái là áp lực đổi mới liên tục: thị trường tuyển dụng của tỉnh hiển thị hàng nghìn vị trí ở dệt may, điện – điện tử, cơ khí, xây dựng, ô tô, dịch vụ, du lịch, kế toán… luôn biến động theo đà phát triển công nghiệp và dịch vụ. Nếu chương trình chậm cập nhật, tỉ lệ việc làm cao hôm nay hoàn toàn có thể sụt giảm vài năm tới.

Tuyên Quang: mang lớp nghề đến tận thôn bản, dạy điều người dân cần bán được
Tuyên Quang đang làm điều mà nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo từng bỏ qua: bắt đầu từ người học và thị trường, không phải từ danh mục nghề sẵn có. Địa bàn rộng, nhiều xã vùng cao, đồng bào dân tộc không dễ rời nương rẫy đi học dài ngày, tỉnh chọn cách đưa lớp học về tận thôn, bản và vùng sản xuất. Ở thôn Khuổi Hóp, lớp trồng và chế biến chè được mở ngay trên vùng nguyên liệu, nội dung học bám sát quy trình nhân giống, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, chế biến chè. Nhưng đổi mới đáng giá hơn là các kỹ năng “phi nông nghiệp”: chụp ảnh, quay video, xây dựng nội dung, dùng mạng xã hội và sàn thương mại điện tử để quảng bá nông sản. Với cách tiếp cận này, học nghề không còn là lấy chứng chỉ, mà là học để tạo sản phẩm, bán được hàng và tự mở rộng sinh kế ngay trên quê hương.

Đắk Lắk: sắp xếp lại mạng lưới để người yếu thế đến gần nghề và doanh nghiệp hơn
Đắk Lắk cho thấy một bài học khác: nếu không tổ chức lại mạng lưới, nói “tiếp cận đào tạo nghề” chỉ là lời hứa. Sau sắp xếp, mạng lưới giáo dục nghề nghiệp của tỉnh có 54 cơ sở, gồm 7 trường cao đẳng, 4 trường trung cấp và 43 cơ sở có hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Trong 10 năm thực hiện Chỉ thị 08, số trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên được tinh gọn từ 23 xuống 16. Việc gộp các trung tâm ở Krông Pắc, Cư Kuin, Lắk, Krông Bông thành một đơn vị cho thấy mục tiêu không phải giảm đầu mối quản lý, mà là tổ chức lại để phục vụ hiệu quả một địa bàn rộng, nhiều học viên dân tộc thiểu số. Ở đây, khoảng cách từ nhà đến lớp, phương tiện đi lại, điều kiện kinh tế gia đình được xem là yếu tố quyết định người học có thể đi trọn khóa hay bỏ dở – một cách nhìn thực tế hơn hẳn so với tư duy “mở lớp là xong”.

Khi mạng lưới và doanh nghiệp cùng định hình chương trình: hướng đi không thể đảo ngược
Cả Ninh Bình, Tuyên Quang và Đắk Lắk đang cho thấy một mẫu số chung: đổi mới giáo dục nghề không thể tách khỏi yêu cầu của doanh nghiệp và chiến lược phát triển địa phương. Ở Đắk Lắk, sau khi bám tinh thần Nghị quyết 71, giáo dục nghề chuyển từ đào tạo dựa trên năng lực sẵn có của nhà trường sang gắn chặt hơn với nhu cầu nhân lực của thị trường. Một trường cao đẳng trong tỉnh ký kết với 262 doanh nghiệp trên cả nước, tăng mạnh thời lượng thực hành, thực tập để người học tiếp cận công nghệ và môi trường làm việc thực tế. Tại Ninh Bình, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên liên kết với 13 trường trong tỉnh và 18 trường ngoài tỉnh, dùng hiệu quả việc làm sau đào tạo làm thước đo chủ yếu. Con đường phía trước đã khá rõ: nếu chương trình nào không gắn được với việc làm sau tốt nghiệp và nhu cầu lao động cụ thể, chương trình đó sẽ bị thị trường tự tay loại bỏ.







