Dự án hạ tầng chậm tiến độ: không chỉ là vài công trình dang dở
Dự án hạ tầng chậm tiến độ là những công trình giao thông, thoát nước, xử lý môi trường sử dụng vốn đầu tư công nhưng thi công kéo dài nhiều năm, liên tục bị gián đoạn, hợp đồng với nhà thầu bị chấm dứt, khiến công trình dang dở, vốn đầu tư công ứ đọng và đời sống người dân bị ảnh hưởng nặng nề. Ở miền Trung, đặc biệt tại Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị, tình trạng này không còn là ngoại lệ mà đang trở thành một mô hình thất bại lặp đi lặp lại. Điều đáng nói: nguyên nhân không chỉ nằm ở thời tiết hay thủ tục, mà là sự kết hợp nguy hiểm giữa nhà thầu kiệt quệ tài chính, hợp đồng cứng nhắc và chủ đầu tư thiếu năng lực quản lý rủi ro. Nếu không nhìn thẳng vào hệ thống, mọi cuộc “đôn đốc tiến độ” sẽ chỉ là chữa cháy trên bề mặt.
Ba Đồn (Quảng Trị): 69% khối lượng và một nhà máy xử lý nước thải bỏ hoang
Dự án Thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị Ba Đồn được khởi công năm 2016, kỳ vọng hoàn thành sau 36 tháng để cải thiện môi trường đô thị. Thế nhưng sau nhiều lần lùi tiến độ, đến năm 2021, thi công tại nhà máy xử lý nước thải dừng lại khi công trình mới hoàn thành phần thô. Tại thời điểm nhà thầu chính SUEZ thông báo chấm dứt hợp đồng ngày 15/10/2022, khối lượng thực hiện chỉ đạt 67,2%, sau đó chủ đầu tư cập nhật tổng giá trị khối lượng lên 69,17%. Nhà máy bỏ hoang, tuyến ống chưa hoàn thiện, bậc thang sụt lún, nứt toác – tất cả cho thấy một công trình dang dở Việt Nam điển hình. Theo Ban Quản lý, hợp đồng bị gián đoạn vì nhà thầu cho rằng chủ đầu tư chưa chứng minh được nguồn tài chính đầy đủ cho toàn bộ dự án. Nói cách khác, niềm tin tài chính giữa hai bên đã gãy, kéo theo cả hệ thống kỹ thuật và môi trường đô thị Ba Đồn bị treo lơ lửng.
Huế: đường Tố Hữu ngập nước, máy móc nằm giữa đồng và chuỗi nhà thầu bị loại
Tại Huế, hình ảnh xe cơ giới mang tên một nhà thầu bị chấm dứt hợp đồng nằm trơ trọi giữa cánh đồng nước ở dự án đường Tố Hữu nối dài đi sân bay Phú Bài là minh chứng trực quan cho sự đổ vỡ hợp đồng và quản lý dự án yếu kém. Mưa lớn khiến nền đường đang thi công bị ngập sâu, máy móc “án binh bất động”, nhà công vụ công nhân nước dâng sát mép. Trước đó, tháng 6, Ban Quản lý dự án đã quyết định chấm dứt hợp đồng với Công ty CP Tập đoàn Đồng Tâm vì thi công không đảm bảo tiến độ; đơn vị chỉ thực hiện được khoảng 13,3 tỉ đồng trong phần việc trị giá 193,3 tỉ đồng, chưa đầy 7% khối lượng. Song câu chuyện nhà thầu chấm dứt hợp đồng ở Huế không dừng lại ở một doanh nghiệp. Công ty Nam Kinh liên tiếp bị chấm dứt nhiều gói thầu vì vi phạm tiến độ, không huy động đủ nhân lực, máy móc, để công trình bị bỏ dở. Đại diện doanh nghiệp lại đổ lỗi cho giá vật liệu tăng, nguồn cung khan hiếm, nhân lực khó huy động. Khi cả nhà thầu lẫn chủ đầu tư đều thiếu năng lực ứng phó, người dân là bên chịu thiệt đầu tiên: đường chưa xong, rác chưa xử lý, trường học chưa cải tạo.

Đà Nẵng: hợp đồng đơn giá cố định và bài toán ‘càng làm càng lỗ’
Đà Nẵng cho thấy một tầng nguyên nhân khác: cấu trúc hợp đồng và biến động thị trường vật liệu. Sở Xây dựng địa phương thừa nhận nhiều dự án giao thông chậm tiến độ vì vướng giải phóng mặt bằng, thiếu nguồn đất đắp, cát, đá, trong khi giá vật liệu biến động mạnh. "Giá cát xây dựng cách đây 2 năm chưa tới 250.000 đồng/m3 nhưng có thời điểm trong năm 2025, 2026 lên tới 500.000 - 600.000 đồng/m3". Với các hợp đồng đơn giá cố định, nhà thầu rơi vào cảnh càng làm càng lỗ, nhiều đơn vị kiệt quệ tài chính, không thể huy động đủ nguồn lực để tiếp tục thi công. Hệ quả là một loạt dự án như quốc lộ 14B, cầu Tam Tiến, các tuyến đường huyện bị kéo dài, nhà thầu đơn phương chấm dứt hợp đồng, vốn đầu tư công ứ đọng, dự án phải tạm dừng và không thể giải ngân hết nguồn vốn. Khi cơ chế hợp đồng không cho phép chia sẻ rủi ro giá với nhà thầu, hệ thống buộc họ phải chọn giữa phá sản hoặc bỏ dở công trình – và nhiều người đã chọn phương án thứ hai.

Hệ thống đang hỏng ở đâu và cần sửa từ điểm nào?
Nhìn từ Ba Đồn, Huế, Đà Nẵng, có thể thấy các dự án hạ tầng chậm tiến độ không phải là những tai nạn riêng lẻ mà là sản phẩm của một hệ thống quản lý đầu tư công thiếu khả năng dự báo và chia sẻ rủi ro. Chủ đầu tư không chứng minh được nguồn vốn, nhà tài trợ dừng cấp vốn, nhà thầu chấm dứt hợp đồng, máy móc bỏ lại trên cánh đồng, công trình dang dở Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều. Về phía cơ quan quản lý, đã có những động thái như đề xuất dừng dự án Ba Đồn để quyết toán, sau đó tổ chức gói thầu mới; đồng thời nghiên cứu bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 để tiếp tục triển khai. Ở Đà Nẵng, Sở Xây dựng nói sẽ tiếp tục đôn đốc nhà thầu, kiên quyết xử lý trường hợp không đáp ứng yêu cầu, bổ sung nhà thầu phụ hoặc điều chuyển khối lượng trong liên danh. Nhưng nếu không đi xa hơn – sửa cơ chế hợp đồng, nâng chuẩn lựa chọn nhà thầu, buộc chủ đầu tư chịu trách nhiệm rõ ràng về tiến độ và chất lượng – thì mọi biện pháp hiện nay chỉ là vá víu. Kết luận thẳng thắn: muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn dự án hạ tầng chậm tiến độ, hệ thống phải chấp nhận thay đổi cách thiết kế rủi ro, thay vì tiếp tục đẩy nó về phía những nhà thầu đang ngày càng kiệt quệ.






