Tháng 9: bước ngoặt chính sách giáo dục, không chỉ là vài thủ tục mới
Chính sách giáo dục tháng 9 là tập hợp các quy định, quyết định và thông tư mới có hiệu lực trong tháng 9, trực tiếp tái thiết kế khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, khung trình độ quốc gia, cơ chế sử dụng tài nguyên giáo dục mở và cách thức huy động đội ngũ nhà giáo, qua đó tác động sâu tới người học, giáo viên và cơ sở giáo dục ở mọi cấp học.
Trọng tâm của đợt điều chỉnh này là ba trụ cột: thiết kế lại hệ thống bằng Khung cơ cấu với 9 cấp độ chương trình, chuẩn hóa năng lực đầu ra bằng Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc trình độ, và số hóa học liệu thông qua tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học. Song song, giáo viên nghỉ hưu được mở đường quay lại giảng dạy toàn thời gian hoặc thỉnh giảng theo hợp đồng. Cách thiết kế đồng bộ này cho thấy mục tiêu không phải vá víu từng mảng lẻ tẻ mà là tái cấu trúc toàn hệ thống. Câu hỏi quan trọng là: học sinh, sinh viên và giáo viên được gì và phải chuẩn bị gì từ loạt quy định mới giáo dục này?

Khung cơ cấu và khung trình độ quốc gia: học lên dễ hơn, nhưng chuẩn cao hơn
Việc ban hành Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân với 9 cấp độ chương trình từ 0 đến 8 và Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc trình độ là thay đổi nền tảng, chứ không phải tiểu tiết kỹ thuật. Thủ tướng đã ký Quyết định 38/2026/QĐ-TTg ngày 23/7 quy định Khung cơ cấu này, áp dụng từ năm học 2026–2027. Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định 39/2026/QĐ-TTg về Khung trình độ quốc gia có hiệu lực từ 07/9.
Điểm tích cực là đường đi học tập được vạch rõ: từ mầm non (cấp độ 0) tới tiến sĩ (cấp độ 8), mỗi cấp học, trình độ đào tạo được định vị rõ ràng. Khi Khung trình độ quốc gia mô tả 8 bậc theo ba thành phần kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân, người học và nhà tuyển dụng có chung một “ngôn ngữ” để hiểu năng lực. Tuy nhiên, chuẩn hóa cũng đồng nghĩa sức ép nâng chất chương trình, kiểm tra, đánh giá sẽ lớn hơn nhiều. Nếu trường không đầu tư nghiêm túc, khung chỉ đẹp trên giấy, còn người học vẫn loay hoay với bằng cấp khó được công nhận rộng rãi.
Tài nguyên giáo dục mở: sinh viên đại học thắng lớn, giảng viên buộc phải thay đổi
Một trong những quy định mới giáo dục đáng chú ý nhất là Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT về tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học. Theo quy định mới, tài nguyên giáo dục mở được đặt làm nền tảng của giáo dục đại học số, nhằm mở rộng tiếp cận tri thức, tăng chia sẻ học liệu và hình thành mạng kết nối tài nguyên giữa các cơ sở giáo dục trên toàn quốc. "Tài nguyên giáo dục mở là học liệu phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu dưới nhiều định dạng khác nhau như giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo, khóa học trực tuyến, học liệu đa phương tiện, dữ liệu học tập và các tài nguyên giáo dục khác".
Sinh viên rõ ràng là bên hưởng lợi trước tiên: các trường phải sử dụng tài nguyên giáo dục mở như học liệu chính thức, tài liệu tham khảo hoặc bổ trợ trong chương trình đào tạo. Người học được tiếp cận nguồn tư liệu rộng hơn, không bị khóa trong kho tài liệu của một trường. Các tài liệu, bài giảng, khóa học được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà nước được ưu tiên công bố theo giấy phép mở, trừ trường hợp pháp luật hạn chế. Nhưng đổi lại, giảng viên không còn “giữ khư khư” bài giảng; họ phải công khai, cập nhật, chịu chuẩn chất lượng và yêu cầu pháp lý về học liệu mở. Đây là cú hích tốt cho minh bạch học thuật, nhưng cũng là sức ép đổi mới phương pháp dạy của giảng viên đại học.

Giáo viên nghỉ hưu trở lại lớp học và những điều chỉnh ở mầm non, đại học
Một điểm mới rất thực tế: giáo viên đã nghỉ hưu có thể ký hợp đồng dạy toàn thời gian hoặc thỉnh giảng tại các cơ sở giáo dục. Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT, ban hành ngày 15/7 và có hiệu lực từ 1/9, định nghĩa hợp đồng toàn thời gian sau nghỉ hưu là thỏa thuận lao động giữa nhà trường và nhà giáo, ký dưới dạng hợp đồng lao động theo pháp luật. Hợp đồng phải bảo đảm tự nguyện, bình đẳng, công khai, minh bạch và không làm ảnh hưởng đến kế hoạch tuyển dụng đội ngũ kế cận. Song song, hình thức thỉnh giảng cho phép các thầy cô tham gia giảng dạy ít nhất một học phần, chuyên đề hoặc hoạt động chuyên môn khác.
Về phía chương trình, Thông tư 60 đưa ra quy định mới về biên soạn tài liệu hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, do Bộ tổ chức biên soạn hoặc giao nhiệm vụ biên soạn. Ở bậc đại học, Thông tư 62 quy định chương trình phải có mục tiêu, chuẩn đầu ra, khối lượng học tập, nội dung kiến thức cốt lõi, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá và điều kiện bảo đảm chất lượng. Cùng với Thông tư 65 về công nhận văn bằng nước ngoài, trong đó nêu rõ thủ tục công nhận văn bằng được xử lý hoàn toàn trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, bức tranh chung cho thấy nhà nước đang siết chặt chất lượng nhưng cũng gỡ bớt rào cản hành chính cho người học.
Từ quy định tới lớp học: ai cần làm gì ngay bây giờ?
Nhìn tổng thể, loạt chính sách giáo dục tháng 9 không phải những mảnh ghép rời rạc mà là một gói cải cách: khung cơ cấu 9 cấp độ chương trình làm rõ đường đi học tập, khung trình độ quốc gia 8 bậc chuẩn hóa năng lực, tài nguyên giáo dục mở kéo đại học vào môi trường số, giáo viên nghỉ hưu quay lại lớp học giúp giảm thiếu hụt nhân lực và giữ được kinh nghiệm chuyên môn. Thông tư về công nhận văn bằng nước ngoài với quy trình trực tuyến cũng mở thêm lối đi quốc tế cho người học.
Nhưng để các quy định mới giáo dục này thực sự có ý nghĩa, từng bên phải hành động: trường học phải rà soát, thiết kế lại chương trình, học liệu theo khung và chuẩn mới; sinh viên cần chủ động khai thác tài nguyên giáo dục mở thay vì chỉ trông vào slide của thầy; giáo viên – cả đang công tác và đã nghỉ hưu – phải chấp nhận chuẩn đánh giá năng lực rõ ràng hơn và áp lực đổi mới phương pháp dạy. Nếu coi đây là cơ hội thay đổi, chứ không chỉ là “thêm giấy tờ”, tháng 9 có thể trở thành điểm khởi đầu cho một hệ thống giáo dục minh bạch, mở và thực chất hơn.




