Công nghệ là một phần của ngôn ngữ sân khấu mới
Công nghệ số sân khấu là việc tích hợp các công cụ kỹ thuật số vào quá trình sáng tạo, dàn dựng, biểu diễn và phân phối tác phẩm nhằm mở rộng cách nghệ sĩ kể chuyện và khán giả tiếp nhận nghệ thuật. Đây không phải cuộc đua đưa thật nhiều thiết bị lên sân khấu, mà là lựa chọn đúng công cụ để phục vụ ý tưởng nghệ thuật. Tại Hà Nội ngày 22/10, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tọa đàm về ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn, tập trung vào những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Cuộc trao đổi diễn ra khi chuyển đổi số đã trở thành xu hướng chung và tác động của nó đến lĩnh vực biểu diễn càng rõ nét sau đại dịch COVID-19. Theo tôi, điều đáng chú ý không nằm ở việc sân khấu có thêm màn hình hay hiệu ứng nào, mà ở chỗ công nghệ buộc các ê-kíp suy nghĩ lại từ khâu hình thành ý tưởng đến cách tác phẩm gặp công chúng.

Từ hình ảnh trình chiếu đến trải nghiệm nhập vai
Thực tế ảo, thực tế tăng cường, trí tuệ nhân tạo, 3D mapping cùng hệ thống âm thanh và ánh sáng tiên tiến đang mở thêm lựa chọn cho dàn dựng sân khấu. Khi được tính đến ngay từ lúc viết kịch bản, những công cụ này có thể tạo nên không gian biểu đạt mà thiết kế truyền thống khó thực hiện. Ngược lại, đưa hình ảnh vào một tác phẩm đã hoàn tất thường chỉ khiến công nghệ thành lớp trang trí. Vở xiếc “Sơn thần thủy quái” cho thấy tiềm năng ấy: hình ảnh núi rừng và đại dương giúp nghệ sĩ nhập vai, đồng thời khiến khán giả cảm nhận câu chuyện và không gian sân khấu rõ hơn. Công nghệ vì thế không chỉ thay đổi cảnh trí, mà có thể điều chỉnh nhịp điệu, điểm nhấn và cách người xem bước vào thế giới của vở diễn. Nhưng hiệu quả chỉ xuất hiện khi hình ảnh, ánh sáng, âm thanh và chuyển động được dàn dựng như một chỉnh thể.

Kết nối khán giả bắt đầu trước khi màn nhung mở
Cách tiếp cận công chúng không còn dừng ở bán vé trực tuyến hay quảng bá trên mạng xã hội. Công nghệ có thể góp mặt trong toàn bộ hành trình thưởng thức, từ lúc khán giả tìm hiểu chương trình, bước vào rạp, làm thủ tục check-in đến khi xem biểu diễn. Đây là cơ hội để các đơn vị nghệ thuật tạo thêm điểm chạm và mở rộng kết nối khán giả, thay vì chỉ coi chuyển đổi số là một công cụ truyền thông. Với “Sơn thần thủy quái”, đơn vị công nghệ dành khoảng bốn tháng chuẩn bị đồ họa và các giải pháp mapping panorama, mapping sàn cùng laser. Nhóm thực hiện cũng đang nghiên cứu cải thiện trải nghiệm từ lúc khán giả vào rạp và thử nghiệm trình chiếu trên bề mặt cong của sân khấu tròn. Đó là hướng đi đáng khuyến khích, nhưng không phải mọi hiệu ứng đều làm trải nghiệm tốt hơn. Công nghệ cần giúp khán giả hiểu và cảm nhận tác phẩm sâu hơn, chứ không khiến họ bị phân tán bởi kỹ xảo.

Thiết bị không thể thay thế bản lĩnh biểu diễn
Giới hạn của công nghệ bộc lộ rõ nhất ở khoảnh khắc trực tiếp trên sân khấu. Hình ảnh có thể dựng nên đại dương, âm thanh có thể tạo hồi hộp, nhưng không thể thay người nghệ sĩ giữ thăng bằng, xử lý động tác hay truyền cảm xúc bằng chính cơ thể và bản lĩnh của mình. Những giây phút khiến người xem nín thở rồi vỡ òa vẫn đến từ kỹ năng và sự hiện diện của nghệ sĩ. Công nghệ cũng đặt ra yêu cầu phối hợp mới: người điều khiển âm thanh, ánh sáng và hình ảnh phải hiểu tiết mục, theo sát diễn biến; nghệ sĩ cần tập luyện để thích ứng với không gian và điều kiện biểu diễn khác trước. Vì thế, một sân khấu hiện đại không đồng nghĩa với một sân khấu nhiều thiết bị. Giá trị nằm ở sự hòa hợp giữa kỹ thuật và con người, trong đó công nghệ nâng đỡ biểu đạt chứ không chiếm vị trí trung tâm. Khi lớp hiệu ứng lấn át diễn xuất, sân khấu có thể đẹp mắt nhưng mất đi điều khiến nó sống.

Muốn đổi mới bền vững, phải đầu tư đồng bộ
Thách thức không chỉ là kinh phí hay thiết bị. Rạp Xiếc Trung ương được xây dựng khoảng 35 năm trước, trong khi yêu cầu trình chiếu hiện nay đòi hỏi xử lý đồng bộ hệ thống đèn, thiết bị treo, âm thanh, độ dội âm và bề mặt trình chiếu. Bởi vậy, có thiết bị chưa có nghĩa là có thể khai thác hiệu quả: giải pháp phải phù hợp với từng loại hình, quy mô và cấu trúc nhà hát. Muốn công nghệ số sân khấu trở thành động lực sáng tạo, các đơn vị cần thay đổi tư duy từ lúc lên ý tưởng, đào tạo nhân lực kỹ thuật và nghệ thuật, cải thiện hạ tầng, xây dựng dữ liệu văn hóa, đồng thời thiết lập cơ chế hợp tác phù hợp. Những rào cản về kinh phí đầu tư, thiết bị đạt chuẩn và đào tạo kỹ xảo sân khấu cũng cần được giải quyết. Kết luận rất rõ: công nghệ có thể mở rộng sân khấu, nhưng chỉ nghệ sĩ mới khiến không gian ấy có sức sống; đầu tư đúng phải nuôi dưỡng cả hai.







