Khi lớp học vùng sâu trở thành nguy cơ an toàn thay vì nơi nuôi dưỡng tri thức
Tình trạng trường học vùng sâu xuống cấp là hiện tượng nhiều cơ sở giáo dục ở khu vực hẻo lánh, vùng biên phải dạy học trong những phòng học nứt toác, nền sụt lún, mái dột, sân ngập nước và thiếu trang thiết bị, khiến cơ sở vật chất trường học nguy hiểm, đe dọa trực tiếp an toàn học sinh vùng biên cả về thể chất lẫn việc duy trì việc học lâu dài. Vấn đề không còn là vài bức tường cũ, mà là một hệ thống trường học nứt toác cần sửa chữa khẩn cấp. Câu hỏi đặt ra không phải “có xuống cấp hay không” mà là “bao giờ chúng sập và ai chịu trách nhiệm khi tai nạn xảy ra”.
Điểm trường lẻ Tiến Sơn ở xã Quỳnh Tam, Nghệ An là minh chứng rõ ràng cho sự đứt gãy giữa khẩu hiệu “trẻ em là tương lai” và thực tế ngân sách dành cho hạ tầng giáo dục vùng sâu. Sau gần 3 thập kỷ sử dụng, nơi này xuất hiện 3 phòng học có nguy cơ cao đổ sập, khiến hơn 140 học sinh phải tạm dừng đến lớp vì cơ sở vật chất trường học nguy hiểm. Khi nhà trường buộc phải huy động ô tô đưa đón trẻ đến điểm học khác, đó không phải giải pháp sáng tạo, mà là phản ứng bắt buộc trước nguy cơ thảm họa. Theo Hiệu trưởng Trường Tiểu học Quỳnh Tam, phương án đưa học sinh đến điểm chính chỉ là tình thế, không thể thay thế nhu cầu sửa chữa bền vững cho trường học nứt toác cần sửa chữa.
Những vết nứt nhìn thấy được và hệ lụy giáo dục bị bỏ quên
Câu chuyện cơ sở vật chất trường học nguy hiểm không dừng ở một điểm trường lẻ. Ở Trường Tiểu học và THCS Hòa Thuận, lớp học bị sụt lún, nền lõm như lòng chảo, tường xuất hiện nhiều vết nứt. Giáo viên phải kê lại bàn ghế, vá chỗ nứt như đang chữa cháy, chứ không phải đang thực hiện một kế hoạch bảo dưỡng bài bản. Khi sân trường Hòa An thường xuyên ngập khoảng 30cm, đường vào lớp phải kê gạch ống để học sinh đi, nghĩa là mỗi bước đến trường là một bước qua vùng nguy hiểm. Trường học vùng sâu xuống cấp đã rõ ràng, nhưng phản ứng của hệ thống vẫn mang màu sắc đối phó ngắn hạn.
Tại điểm trường Hòa Lợi cách điểm chính khoảng 4km, mỗi mùa nước dâng là một mùa giáo viên và học sinh cùng vật lộn với sân trường ngập, mô tơ bơm chìm trong nước. Việc bơm chỉ tạo lối đi tạm, nước lại quay về vì nền đất thấp. Bên trong, tường bong tróc, nền và hành lang có dấu hiệu sụt lún. Trẻ em vùng sâu phải học trong môi trường mà chuẩn mực an toàn tối thiểu bị xem nhẹ. Cùng lúc, các trường này thiếu giáo viên, thiếu thiết bị, thậm chí thiếu sách, biến lớp học thành không gian vừa nguy hiểm vừa nghèo nàn. Khi an toàn học sinh vùng biên bị đặt dưới ngưỡng chấp nhận được, mọi khẩu hiệu về chất lượng giáo dục trở nên sáo rỗng.
Bản Vặn: những vết nứt dài hơn cả khoảng cách đi học
Ở điểm trường bản Vặn thuộc Trường Mầm non Yên Thắng, khái niệm trường học nứt toác cần sửa chữa mang hình hài rất cụ thể: vết nứt chạy dọc, chạy ngang trên mảng tường, nền nhà sụt lún, phần sát móng rạn vỡ. Điều đáng báo động không phải chỉ là bề rộng vết nứt, mà là vị trí của chúng – ngay bên trong không gian sinh hoạt, vui chơi và học tập hằng ngày của hơn 80 trẻ, chủ yếu là con em đồng bào Thái. Mỗi trận mưa lớn, cô trò ở đây sống trong tâm trạng nơm nớp lo sập, và phụ huynh phải đánh cược tương lai con mình với sự ổn định của một bức tường bê tông đã mất khả năng chịu lực.
Theo Hiệu trưởng Trường Mầm non Yên Thắng, dãy nhà 3 phòng học tại bản Vặn bắt đầu xuất hiện sụt móng, nứt tường sau bão số 5 năm 2025. UBND xã đã lập báo cáo, thống kê điểm trường có 86 học sinh và đề nghị bố trí kinh phí xử lý. Nhưng đến nay, vẫn chưa có kết luận chuyên môn và phương án khắc phục cụ thể. Trong khi đó, dãy nhà 2 phòng đã phải lát lại nền vì hư hỏng, sụt lún, song tình trạng thấm nước vẫn tồn tại. Hệ thống quản lý hạ tầng giáo dục rõ ràng phản ứng chậm hơn tốc độ xuống cấp của công trình. Khi an toàn học sinh vùng biên bị treo lơ lửng trên các văn bản, những vết nứt tiếp tục dài ra theo thời gian.

Đi học giữa rủi ro: khoảng cách vô hình mà trẻ vùng sâu phải vượt qua
Cơ sở vật chất trường học nguy hiểm không chỉ trực tiếp đe dọa tính mạng, mà còn gián tiếp đẩy học sinh ra xa cơ hội học tập. Khi hơn 140 em ở Tiến Sơn phải tạm nghỉ hoặc được chở bằng ô tô đến điểm chính, khi trẻ ở Hòa Lợi phải lội qua sân ngập, khi học sinh bản Vặn có thể bị chuyển sang trường tiểu học khác mỗi khi mưa lớn, việc đến lớp trở thành hành trình mệt mỏi. Hạ tầng yếu buộc trẻ phải di chuyển xa hơn, tốn nhiều thời gian và đối mặt thêm rủi ro đường sá. Trong bối cảnh đó, việc duy trì sĩ số, hạn chế bỏ học ở trường học vùng sâu xuống cấp là thách thức không thể giải bằng vài biện pháp tuyên truyền.
Nhìn rộng hơn, khi các trường vùng sâu vừa thiếu thầy, thiếu thiết bị, thiếu sách, lại phải khai giảng trên nền nhà nứt, sân ngập, chúng ta đang tạo ra một sự bất bình đẳng hạ tầng trong giáo dục. Trẻ thành phố bàn ghế chắc chắn, phòng học sáng sủa; trẻ vùng biên ngồi trong lớp có vết nứt chạy ngang tầm mắt. An toàn học sinh vùng biên vì thế trở thành bài kiểm tra nghiêm khắc đối với ưu tiên chính sách. Nếu trẻ phải chấp nhận học trong điều kiện nguy hiểm hoặc đi bộ, đi xe qua đường khó khăn để tránh những bức tường nứt, thì lỗi không thuộc về mưa bão, mà thuộc về sự chậm trễ trong sửa chữa trường học nứt toác cần sửa chữa.

Không thể chờ bức tường sập mới công nhận đó là khủng hoảng
Vấn đề trường học vùng sâu xuống cấp đã quá rõ để tiếp tục bị xem như chuyện “đã báo cáo, đang xem xét”. Những vết nứt ở Tiến Sơn, Hòa Thuận, bản Vặn không phải là lỗi kỹ thuật nhỏ, mà là lời cảnh báo về cách chúng ta đối xử với an toàn học sinh vùng biên. Khi tiêu chuẩn tối thiểu là “không đổ sập” được chấp nhận thay cho “an toàn, lành mạnh, khuyến khích học tập”, chúng ta đã đặt trẻ em vùng sâu ở vị trí thấp hơn trong thang ưu tiên chính sách.
Điều cần thiết không phải thêm một báo cáo hiện trạng, mà là cơ chế kiểm định độc lập, nguồn lực sửa chữa chủ động, và trách nhiệm rõ ràng cho từng điểm trường. Việc chấp nhận cho trẻ sống cùng những vết nứt là sự mặc cả nguy hiểm để tiết kiệm chi phí trong ngắn hạn. Đã đến lúc coi cơ sở vật chất trường học nguy hiểm là tình huống khẩn cấp, không kém bất kỳ rủi ro thiên tai nào. Chỉ khi trường học nứt toác cần sửa chữa được xử lý kịp thời, lớp học vùng sâu mới thực sự là nơi mở ra cơ hội, chứ không phải nơi mở thêm một vết nứt bất công trong hệ thống giáo dục.







