Nghiên cứu nhiều, ứng dụng còn ít
Thương mại hóa nghiên cứu nông nghiệp là quá trình đưa kết quả khoa học ra khỏi phòng thí nghiệm, chuyển thành giải pháp được sản xuất, kinh doanh và tạo giá trị cho người làm nông nghiệp. Đây là mắt xích quyết định để đầu tư vào khoa học nông nghiệp góp phần trực tiếp vào năng suất, thu nhập và sức cạnh tranh của ngành.
Tại hội nghị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp khu vực phía Bắc ngày 27/10, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cùng đại diện các bộ, ngành, địa phương, viện, trường và doanh nghiệp bàn về cách đưa nghiên cứu vào thực tiễn. Nhưng con số được nêu tại hội nghị cho thấy quy mô khoảng cách: trong 451 sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc lĩnh vực nông nghiệp được tổng hợp, 341 sản phẩm, tương đương khoảng 76%, vẫn ở giai đoạn nghiên cứu; chỉ khoảng 24% đã được ứng dụng hoặc thương mại hóa.
Đây không chỉ là chuyện một đề tài chưa hoàn tất. Khi kết quả không đến được với hợp tác xã, doanh nghiệp hay hộ sản xuất, nguồn lực nghiên cứu chưa tạo đủ tác động lên những việc người nông dân cần: giống phù hợp, giảm chi phí, bảo quản tốt hơn và đầu ra có giá trị cao hơn.

Nút thắt bắt đầu từ lúc chọn đề tài
Một nguyên nhân lớn là nghiên cứu và nhu cầu sản xuất thường gặp nhau quá muộn. Theo báo cáo tại hội nghị, trong 5 năm qua chỉ khoảng 12% đề tài nghiên cứu có kết nối với doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp ít tham gia xác định bài toán, thử nghiệm hay kế hoạch tiếp nhận công nghệ, nhà khoa học có thể tạo ra kết quả có giá trị chuyên môn nhưng chưa chắc giải quyết đúng nhu cầu thị trường.
Tình trạng này càng khó khắc phục trong một ngành sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Nghiên cứu và chuyển giao còn dàn trải; giống và công nghệ đầu vào còn hạn chế; công nghệ bảo quản, chế biến sâu thiếu hụt; dữ liệu chưa liên thông và nhân lực số còn yếu. Đây là các điểm nghẽn liên quan chặt chẽ: công nghệ khó được nhân rộng nếu vùng nguyên liệu rời rạc, còn doanh nghiệp khó đầu tư nếu thiếu quy mô và thông tin đáng tin cậy.
Vì vậy, không thể chỉ yêu cầu nhà khoa học “chuyển giao tốt hơn”. Cần có cơ chế để doanh nghiệp và người sản xuất cùng đặt hàng, cùng thử nghiệm và chia sẻ trách nhiệm từ đầu.

Thể chế, tài chính và dữ liệu phải cùng chuyển động
Liên kết yếu không phải nút thắt duy nhất. Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tháo gỡ vướng mắc về thể chế, cơ chế tài chính và hạ tầng dùng chung, đồng thời đổi mới cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất theo chuỗi giá trị. Nếu thủ tục và cách cấp vốn không hỗ trợ thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm và mở rộng ứng dụng, kết quả nghiên cứu sẽ khó vượt qua giai đoạn trình diễn.
Dữ liệu cũng cần được xem là hạ tầng sản xuất, không phải phần việc phụ của chuyển đổi số. Số hóa, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu đất đai, truy xuất nguồn gốc cùng thông tin phục vụ sản xuất có thể giúp cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người nông dân đưa ra quyết định dựa trên cùng một nền tảng. Nếu dữ liệu tiếp tục phân tán, công nghệ nông nghiệp khó phát huy hiệu quả trên toàn chuỗi.
Điều cần thay đổi là cách đánh giá thành công: không dừng ở số đề tài hay sản phẩm nghiên cứu, mà theo dõi khả năng áp dụng, lợi ích trong sản xuất và mức độ nhân rộng.

Thương mại hóa mới là phép thử của tăng trưởng
Thương mại hóa nghiên cứu không đồng nghĩa đặt lợi nhuận lên trên giá trị khoa học. Đó là phép thử xem kết quả có giải quyết được bài toán thật, có thể vận hành trong điều kiện sản xuất và có người sẵn sàng tiếp nhận hay không. Giống mới, canh tác thông minh, chế biến sâu, chăn nuôi an toàn sinh học, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn đều cần được gắn với ngành hàng, đối tác và đầu ra cụ thể.
Hướng đi này có cơ sở: ứng dụng giống mới, công nghệ sinh học, cơ giới hóa và quy trình canh tác tiên tiến đã giúp năng suất các giống lúa mới tăng khoảng 9,9%, sản lượng tăng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm và tạo giá trị kinh tế gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng. Kết quả đó cho thấy khi nghiên cứu gặp đúng nhu cầu và được triển khai, khoa học có thể đóng góp rõ rệt cho tăng trưởng nông nghiệp.
Các bước tiếp theo cần gắn với thời hạn cụ thể: trước ngày 15/11/2026, các địa phương phía Bắc phải chọn từ 3 đến 5 bài toán ưu tiên; trước ngày 15/12/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoàn thiện danh mục nhiệm vụ lớn để triển khai trong quý I/2027. Đây là cơ hội để chuyển từ lời kêu gọi liên kết sang trách nhiệm và kết quả có thể kiểm chứng.
Kết luận, khoảng 76% sản phẩm còn ở giai đoạn nghiên cứu không phải bằng chứng rằng nông nghiệp thiếu ý tưởng, mà cho thấy hệ thống chưa nối nghiên cứu với sản xuất đủ chặt. Muốn khoa học nông nghiệp trở thành động lực tăng trưởng, cần xử lý đồng thời thể chế, tài chính, chuỗi giá trị và dữ liệu, đồng thời để doanh nghiệp và người sản xuất tham gia ngay từ khi hình thành bài toán.






