Nghịch lý: đại học nghiên cứu nhiều nhưng doanh nghiệp từ phòng lab quá ít
Khoảng cách giữa nghiên cứu đại học và thị trường là tình trạng hệ thống khi các trường tạo ra phần lớn công bố khoa học, sáng chế và sản phẩm sẵn sàng chuyển giao nhưng chỉ một tỷ lệ rất nhỏ trong số đó trở thành kết quả nghiên cứu thương mại hóa hay doanh nghiệp khoa học công nghệ thực sự hoạt động trên thị trường, phản ánh những rào cản phát triển startup sâu sắc từ cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ đến kết nối với doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Hệ thống giáo dục đại học hiện tập trung khoảng 83% lực lượng nghiên cứu của cả nước với hơn 95.000 giảng viên và gần 64.000 nghiên cứu sinh. Năm 2025, khối đại học đóng góp gần 84% tổng số công bố khoa học của cả nước với hơn 21.000 bài trên Scopus và Web of Science, đồng thời trong 9 tháng năm 2026 đã nộp 513 đơn đăng ký sáng chế, vượt cả năm trước đó. Thế nhưng, nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ – bao gồm chuyển giao công nghệ – chỉ chiếm khoảng 4,94% tổng nguồn thu của các trường. Trên bình diện doanh nghiệp, chỉ có 27 trong 991 doanh nghiệp được chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ ra đời từ kết quả nghiên cứu của viện, trường, tương đương 2,7%. Đây không còn là chuyện thiếu may mắn, mà là dấu hiệu của một cấu trúc đang vận hành sai nhịp.
Khoảng trống tài chính: từ TRL 3–4 lên 6–7 không ai chịu trả tiền
Điểm nghẽn lớn nhất của chuyển giao công nghệ từ đại học sang doanh nghiệp nằm ở vùng xám tài chính: giai đoạn hoàn thiện công nghệ. Phần lớn kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước mới dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ (TRL) 3–4, trong khi doanh nghiệp cần sản phẩm đạt tối thiểu mức 6–7 mới có thể ứng dụng. Khoảng trống từ 4 đến 7 này gần như không có nguồn vốn rõ ràng: ngân sách nghiên cứu cơ bản thì dừng lại, còn doanh nghiệp lại chưa đủ niềm tin để rót tiền vào thứ chưa chứng minh được thị trường.
Theo số liệu Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu, chi nghiên cứu và phát triển do doanh nghiệp thực hiện tại Việt Nam chỉ tương đương 0,3% GDP, trong khi Singapore là 1,3%, Trung Quốc 2,1% và Hàn Quốc 4,2%. Khi doanh nghiệp ít đầu tư R&D, gánh nặng tài chính dồn về phía nhà nước và trường đại học. Nhưng ngay trong khu vực công, cơ chế chấp nhận rủi ro lại yếu: nhiều lãnh đạo trường e ngại khi đầu tư cho nghiên cứu có khả năng thất bại, một số viện, trường lo quyết định góp vốn bằng kết quả nghiên cứu sẽ bị soi lại khi thanh tra, kiểm toán. Kết quả là không ai muốn đứng tên chịu rủi ro, và startup từ phòng lab bị nghẹt vốn ngay từ vạch xuất phát.
Sở hữu trí tuệ và cơ chế: khi mọi bên đều sợ sai hơn là sợ chậm
Ngay cả khi có kết quả nghiên cứu tốt, hành trình biến chúng thành tài sản kinh doanh vẫn vướng ở bài toán sở hữu trí tuệ và cơ chế hợp tác. Các bên lúng túng trong định giá, xác định quyền khai thác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm thử nghiệm. Không có khung chuẩn, mỗi thương vụ chuyển giao công nghệ lại là một cuộc thương lượng từ đầu, kéo dài thời gian và làm nản lòng cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp. Trong khi đó, cả nước dù đã có khoảng 120 văn phòng chuyển giao công nghệ, phần lớn vẫn chưa hoạt động chuyên nghiệp. Thiếu đội ngũ trung gian hiểu cả kỹ thuật lẫn thị trường, nhà khoa học không biết bán cái gì, còn doanh nghiệp không biết nên mua ở đâu.
Một nghịch lý khác là hệ thống giám sát khiến nhiều người chọn an toàn thay vì đổi mới. Một số viện, trường lo ngại quyết định khai thác, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu bị xem xét lại khi thanh tra, kiểm toán. Cơ chế hiện tại thưởng cho sự "không sai" hơn là cho sự dám thử. Khi không có quy định rõ ràng về ai đặt hàng và trả tiền cho nghiên cứu, ai được bảo vệ khi chấp nhận rủi ro, và kết quả hợp tác được đo lường thế nào, thì việc hình thành doanh nghiệp khoa học công nghệ từ trường đại học gần như phụ thuộc vào vài cá nhân dám làm, thay vì là một quy trình được khuyến khích.
Thiếu cầu thực chất: hàng chục nghìn công nghệ chào bán, rất ít người mua
Ngay cả khi vượt qua được rào cản tài chính và pháp lý, các kết quả nghiên cứu thương mại hóa vẫn gặp một vấn đề cơ bản: thiếu cầu thực chất từ phía doanh nghiệp. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng hợp hơn 1.000 sản phẩm công nghệ sẵn sàng chuyển giao của 41 đơn vị. Trên các sàn giao dịch công nghệ, có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ ghi nhận 750 nhu cầu tìm mua; trong 8 tháng đầu năm 2026, chỉ 72 giao dịch thành công với tổng giá trị hơn 11,2 tỉ đồng. Con số này cho thấy thị trường công nghệ chưa hình thành đúng nghĩa: nhiều sản phẩm được "bày" ra, nhưng rất ít sản phẩm được "đặt" từ nhu cầu thực tế.
Nguyên nhân sâu xa là doanh nghiệp tham gia quá muộn trong chuỗi nghiên cứu – phát triển. Khi họ không cùng định hình yêu cầu về tính năng, giá thành và khả năng tích hợp ngay từ đầu, sản phẩm hoàn thiện thường không khớp với nhu cầu sản xuất, dẫn đến phải sửa đổi tốn kém hoặc bị bỏ qua. Khảo sát cho thấy các trường đại học đánh giá nhu cầu hợp tác ở mức khoảng 4/5 điểm, trong khi nhóm doanh nghiệp FDI chỉ chấm 2,68 điểm. Nói cách khác, trường rất muốn bán, nhưng doanh nghiệp chưa thấy lý do để mua. Trong bối cảnh chỉ 6,7% doanh nghiệp nhỏ có bộ phận R&D, việc trông chờ họ chủ động tìm đến phòng lab là điều khó xảy ra.
Từ điểm sáng đến thay đổi cấu trúc: cần coi startup từ đại học là một nhiệm vụ chính sách
Dù bức tranh chung còn nhiều gam tối, một số mô hình hợp tác đã cho thấy hướng đi khác. Khi nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế, ngân sách nhà nước đóng vai trò vốn mồi và có đơn vị đủ năng lực điều phối, kết quả chuyển giao công nghệ rõ ràng hơn. Một số trường đã hợp tác với bộ, ngành và địa phương để triển khai hàng trăm nhiệm vụ khoa học, công nghệ gắn với doanh nghiệp. Ở cấp chính sách, Bộ Giáo dục và Đào tạo kiến nghị thí điểm Chương trình Liên minh nghiên cứu hợp tác ba nhà theo cơ chế đồng tài trợ, tham khảo mô hình trung tâm nghiên cứu hợp tác của Australia. Bộ cũng đề xuất thí điểm mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học tại một trường kỹ thuật lớn, tối đa 15 doanh nghiệp trong 24 tháng theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Ở phía quản lý khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất ngân sách nhà nước đồng tài trợ theo vốn doanh nghiệp thực góp, gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với kết quả hợp tác, chuyển giao, đồng thời tạo thị trường ban đầu qua đặt hàng, mua sắm công, trong đó Nhà nước có thể làm khách hàng đầu tiên cho sản phẩm công nghệ mới. Nếu các đề xuất này được triển khai nhất quán, startup từ đại học sẽ không còn là ngoại lệ 2,7% mà trở thành một kênh phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ được thiết kế bài bản. Điều quan trọng là phải chuyển trọng tâm từ "có đề tài" sang "có hợp đồng", từ "có sản phẩm" sang "có người dùng". Khi đó, phòng lab mới thực sự nối được với thị trường.






