Giao thông xanh tăng tốc, hạ tầng sạc lại đi chậm
Chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải là quá trình thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng điện và các nguồn năng lượng sạch hơn, đồng thời xây dựng hạ tầng sạc xe điện, trạm đổi pin và hệ thống cung cấp năng lượng xanh để giảm phát thải khí nhà kính và tái cấu trúc toàn bộ hoạt động vận tải đô thị lẫn liên vùng. Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc của giao thông xanh, nhưng nghịch lý là phương tiện chuyển sang điện nhanh hơn nhiều so với tốc độ chuẩn bị hạ tầng sạc xe điện. Đến tháng 6/2026, taxi chuyển sang điện đã đạt 70,9%, tương đương 61.171 trên tổng số 86.274 xe. Xe buýt điện cũng chiếm 23,1% tổng số 8.428 xe buýt, báo hiệu một cuộc chuyển dịch rõ rệt trong vận tải hành khách đô thị. Nếu chỉ nhìn vào các con số này, giao thông xanh Việt Nam có vẻ đang đi đúng hướng; nhưng nhìn vào hạ tầng năng lượng, câu chuyện lại khác.

Hội nghị về chuyển đổi năng lượng xanh phơi bày khoảng cách cung – cầu
Sáng 17/9, Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị tham vấn Báo cáo tổng kết thực hiện Quyết định số 876/QĐ-TTg và dự thảo Quyết định phê duyệt Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh trong giao thông vận tải. Chính hội nghị này cho thấy rõ bất cân xứng: chính sách đã kích hoạt làn sóng taxi chuyển sang điện, xe buýt điện, ô tô con và xe máy điện tăng mạnh từ năm 2022, nhưng hạ tầng sạc vẫn chưa theo kịp nhu cầu. Cả nước có 15.024 trạm/cổng sạc, trong đó 5.331 điểm sạc nhanh và 9.693 điểm sạc chậm, hiện diện ở 34 tỉnh, thành và 125 trên 215 tuyến cao tốc, quốc lộ. Đó là bước tiến đáng kể, nhưng vẫn là con số khiêm tốn nếu so với mục tiêu giao thông điện sẽ cần thêm 3–4 tỷ kWh điện mỗi năm vào năm 2030. Nói thẳng, chúng ta đã khuyến khích người dân và doanh nghiệp lên “tàu” xe điện, nhưng nhà ga năng lượng thì chưa sẵn sàng.
Điểm nghẽn hạ tầng: không chỉ thiếu trạm sạc mà thiếu cả quy hoạch năng lượng
Vấn đề không nằm ở việc Việt Nam không có hạ tầng sạc xe điện, mà ở chỗ hạ tầng ấy thiếu đồng bộ, thiếu công suất lớn và thiếu gắn kết với quy hoạch giao thông, đô thị, đất đai và lưới điện. Báo cáo chỉ ra hạ tầng sạc, đổi pin và cung cấp nhiên liệu xanh như hydro, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), điện bờ cho tàu biển chưa đáp ứng nhu cầu phương tiện, phân bố chưa hợp lý. Ngay trên các trạm dừng nghỉ, nơi đáng lẽ phải là mắt xích quan trọng của mạng lưới, mới chỉ có 4/21 trạm vận hành hệ thống sạc, 8 trạm đang lắp đặt. "Hạ tầng sạc, đổi pin và cung cấp nhiên liệu xanh chưa đáp ứng nhu cầu, phân bố chưa hợp lý và thiếu các công trình công suất lớn" là câu nhận xét chính xác về tình trạng hiện nay. Khi taxi chuyển sang điện chiếm hơn 70% và xe buýt điện hiện diện ngày càng dày trong các đô thị, khoảng trống hạ tầng này không còn là chuyện kỹ thuật mà đã trở thành rủi ro chính sách.
Giao thông xanh lan sang đường sắt, đường thủy, hàng hải, hàng không nhưng năng lượng chưa theo kịp
Điện hóa và chuyển đổi năng lượng xanh không dừng ở đường bộ. Từ taxi, xe buýt điện đến đường sắt đô thị, tàu thủy nội địa, cảng biển và hàng không, bức tranh giao thông xanh Việt Nam đang mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Hà Nội khai thác các tuyến đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông, Nhổn – Cầu Giấy và khởi công thêm 7 tuyến; TP.HCM vận hành metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên và động thổ 3 tuyến mới. Nhiên liệu sinh học B5 đã được thử nghiệm trên đường sắt; 11 cảng biển được công bố là cảng xanh và 13 cảng được đánh giá đạt tiêu chí xanh; một số chuyến bay đã pha trộn và sử dụng SAF. Tuy vậy, các hạ tầng cung cấp năng lượng xanh – từ trạm sạc lớn cho xe buýt điện, depot taxi điện đến lưới điện hỗ trợ metro – đều đứng trước câu hỏi: nguồn điện và quỹ đất ở đâu, ai đầu tư, và cơ chế phối hợp giữa ngành điện, giao thông và địa phương như thế nào?

Muốn phát thải ròng bằng 0, phải giải quyết bài toán hệ sinh thái năng lượng
Mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đặt ra yêu cầu rất rõ: không thể chỉ chạy theo số lượng taxi chuyển sang điện hay xe buýt điện, mà phải xây dựng một hệ sinh thái năng lượng xanh cho toàn bộ giao thông. Dự thảo quyết định thay thế Quyết định 876 hướng đến cụ thể hóa mục tiêu, lộ trình chuyển đổi và tăng tính đồng bộ giữa phương tiện, hạ tầng giao thông và nguồn cung năng lượng; Hà Nội và TP.HCM được kỳ vọng chuyển đổi toàn bộ xe buýt, taxi, xe hợp đồng dưới 8 chỗ và xe giao hàng công nghệ sang năng lượng xanh giai đoạn 2026–2030. Nhưng chính đại diện Bộ Công Thương đề nghị giãn lộ trình sang 2025–2035 để có thêm thời gian chuẩn bị nguồn năng lượng và hạ tầng. Muốn giao thông xanh không “đuối sức” giữa đường, Việt Nam cần một gói giải pháp toàn diện: quy hoạch hạ tầng năng lượng đi trước một bước, cơ chế hỗ trợ tài chính tập trung thay vì phân tán, tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng và sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp vận tải, ngành điện và chính quyền địa phương.






