Khung giá năng lượng theo vùng kinh tế xã hội: Bước ngoặt của cải cách giá điện
Điều chỉnh khung giá năng lượng từ mô hình chia 3 miền sang tính theo từng vùng kinh tế xã hội hoặc từng tỉnh, thành phố là một bước cải cách giá điện nhằm phản ánh sát hơn điều kiện đầu tư, chi phí và tiềm năng năng lượng tái tạo ở mỗi địa phương, thay vì áp dụng một mức khung giá cứng cho cả miền với điều kiện tự nhiên rất khác nhau. Đây là thay đổi trực tiếp gắn với giá điện mặt trời và điện gió Việt Nam, tác động đến cách đàm phán hợp đồng của nhà đầu tư và cơ cấu chi phí hệ thống điện quốc gia.
Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi quy định về xác định, phê duyệt khung giá phát điện và khung giá nhập khẩu điện, trong đó đề xuất bỏ cách xác định khung giá điện mặt trời, điện gió theo 3 miền Bắc, Trung, Nam. Với điện mặt trời, khung giá có thể được tính theo phân vùng kinh tế xã hội của Quy hoạch tổng thể quốc gia hoặc theo từng tỉnh, thành phố.
Điện gió trên đất liền và điện gió gần bờ trong dự thảo được định hướng xác định khung giá theo vùng kinh tế xã hội, thay cho các khái niệm miền Bắc, miền Trung, miền Nam vốn đã bộc lộ nhiều bất cập sau các đợt sáp nhập tỉnh và điều chỉnh địa giới hành chính. Về bản chất, đây không chỉ là thay đổi kỹ thuật, mà là sự dịch chuyển tư duy quản lý khung giá năng lượng từ ‘hành chính hóa’ theo miền sang ‘kinh tế hóa’ theo vùng và địa bàn cụ thể.

Tại sao phải bỏ khung giá 3 miền cho điện mặt trời và điện gió?
Cách chia khung giá điện mặt trời và điện gió theo ba miền Bắc – Trung – Nam từng được xem là đơn giản, dễ quản lý, nhưng đến hiện tại đã trở nên lạc hậu. Theo cơ quan soạn thảo, mô hình này không còn phù hợp sau khi sáp nhập tỉnh, điều chỉnh địa giới hành chính, trong khi điều kiện tự nhiên – yếu tố then chốt của năng lượng tái tạo – lại khác nhau rất lớn giữa các địa phương.
Nắng, gió – tức bức xạ mặt trời và tốc độ gió – quyết định trực tiếp sản lượng và hiệu quả đầu tư dự án điện tái tạo; chỉ cần một thay đổi nhỏ về bức xạ hoặc gió cũng làm đổi hẳn suất đầu tư và chi phí phát điện. Khi áp một khung giá chung cho cả miền, các dự án ở nơi điều kiện xấu hơn bị bất lợi, trong khi những nơi có lợi thế tự nhiên lại được hưởng mức giá trần cao hơn chi phí cần thiết. Nói cách khác, khung giá 3 miền vô tình tạo ra sự bất cân xứng, thậm chí méo mó trong tín hiệu đầu tư.
Điều đáng chú ý là hiện khung giá phát điện mặt trời, điện gió được xây dựng theo ba miền với mức tối đa khác nhau: điện mặt trời mặt đất có giá trần 1.383 đồng/kWh ở miền Bắc, 1.107 đồng/kWh ở miền Trung và 1.012 đồng/kWh ở miền Nam; điện mặt trời nổi tương ứng 1.686, 1.336 và 1.228 đồng/kWh. Với điện gió trên đất liền, giá trần khoảng 1.959 đồng/kWh ở miền Bắc, 1.807 đồng/kWh ở miền Trung và 1.840 đồng/kWh ở miền Nam, còn điện gió gần bờ có mức tối đa khoảng 1.987 đồng/kWh tại cả ba miền. Đây là những con số cho thấy khung giá cũ vốn đã chênh lệch giữa các miền, nhưng vẫn chưa đủ chi tiết để phản ánh sự khác nhau giữa từng địa phương trong cùng một miền.
Tính giá theo tỉnh hoặc vùng: Nhà đầu tư được gì, mất gì?
Chuyển sang khung giá theo vùng kinh tế xã hội hoặc theo từng tỉnh, thành phố tức là chấp nhận mức độ phức tạp cao hơn để đổi lấy sự chính xác lớn hơn. Theo Cục Điện lực, việc xác định khung giá theo địa bàn cụ thể hơn sẽ phản ánh chính xác chi phí đầu tư và tạo thuận lợi thu hút nhà đầu tư. Nói thẳng, đây là cơ hội cho những địa phương có tiềm năng nắng gió tốt, hạ tầng sẵn có và cam kết mạnh về phát triển năng lượng tái tạo.
Với nhà đầu tư, lợi ích rõ nhất là khung giá điện mặt trời và điện gió Việt Nam sẽ sát hơn với rủi ro và chi phí thực tế. Những dự án ở vùng xa xôi, hạ tầng yếu hoặc bức xạ thấp có khả năng được khung giá trần cao hơn, giúp cân bằng bài toán tài chính. Ngược lại, các tỉnh có điều kiện tự nhiên tốt nhưng hạ tầng truyền tải đã đầy có thể phải cạnh tranh mạnh hơn về cơ chế, thủ tục, thời gian phê duyệt để giữ chân vốn. Khi khung giá năng lượng chi tiết tới cấp vùng kinh tế xã hội hay tỉnh, sức ép minh bạch số liệu và quy hoạch cũng tăng lên: không thể ‘kêu khó’ chung chung để đòi giá cao.
Tuy vậy, rủi ro không nhỏ là sự phân mảnh chính sách. Nếu mỗi địa phương đi theo một cách tiếp cận, doanh nghiệp sẽ phải xây nhiều kịch bản tài chính, tăng chi phí chuẩn bị dự án. Ngoài ra, vùng yếu về năng lực quản lý có thể chậm ban hành hoặc cập nhật dữ liệu, làm nhà đầu tư ngần ngại. Do đó, tính giá theo tỉnh hay vùng chỉ thực sự tạo cạnh tranh công bằng khi kèm theo khung hướng dẫn thống nhất và cơ chế giám sát tập trung, tránh biến cải cách giá điện thành một ‘ma trận’ mới.
Từ EVN sang đơn vị vận hành thị trường: Nhìn lại bài toán khách quan trong khung giá
Một thay đổi quan trọng khác trong đợt cải cách này là chuyển trách nhiệm tính toán và trình khung giá phát điện hàng năm từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam sang Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện. Về nguyên tắc, người thiết lập khung giá không nên đồng thời là bên mua điện, để giảm xung đột lợi ích. Việc tách bạch này là tín hiệu tích cực cho nhà đầu tư khi đàm phán giá trong khung giá năng lượng.
Khung giá phát điện là mức giá tối đa làm cơ sở đàm phán giữa các bên, không phải giá bán lẻ mà người tiêu dùng trực tiếp phải trả. Điều đó nghĩa là sân chơi hợp đồng mua bán điện (PPA) vẫn còn nhiều không gian thương lượng, nhưng khung trần phải đủ minh bạch để gửi tín hiệu đúng. Khi khung giá điện mặt trời và điện gió được thiết kế theo vùng kinh tế xã hội, cộng với việc một đơn vị vận hành thị trường độc lập hơn chịu trách nhiệm xây dựng, chúng ta có cơ sở kỳ vọng vào một cơ chế định giá ít thiên lệch, cân bằng hơn giữa lợi ích nhà đầu tư và nhu cầu ổn định hệ thống.
Dù vậy, nếu dữ liệu đầu vào không đầy đủ hoặc chậm cập nhật, sự khách quan về tổ chức cũng khó bù lại sai lệch về thông tin. Bài toán ở đây không chỉ là ‘ai’ tính khung giá, mà còn là ‘dữ liệu nào’ được dùng. Khi mỗi vùng kinh tế xã hội có đặc thù riêng, việc chuẩn hóa cách đo bức xạ, tốc độ gió, chi phí truyền tải sẽ quyết định chất lượng của cả quá trình cải cách giá điện.



