Hạt giống vật lý hiện đại trên mảnh đất hoang sơ
Sự hình thành ngành vật lý lý thuyết Việt Nam là quá trình các giáo sư vật lý tiên phong dùng tri thức hiện đại và ý chí vượt khó để xây dựng từ con số không một hệ thống đào tạo, nghiên cứu và truyền lửa, tạo nền tảng khoa học Việt Nam cho những bước phát triển sau này trong hạt nhân, vật lý chất rắn và khoa học công nghệ cao. Ngay từ năm 1956, khi Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ra đời, GS Nguyễn Hoàng Phương đã đứng trong nhóm sáng lập Khoa Vật lý và trở thành Trưởng bộ môn Vật lý lý thuyết đầu tiên, mở ra một hướng đào tạo hoàn toàn mới ở nước ta. Ông không chọn con đường an toàn giảng lại những giáo trình cũ, mà mang thẳng thuyết tương đối và cơ học lượng tử vào giảng đường, dạy những bài giảng hiện đại đầu tiên cho sinh viên Việt Nam. Việc một nền giáo dục còn nghèo nàn dám tiếp cận đỉnh cao tri thức là quyết định táo bạo và có tính định hướng lâu dài.

Nguyễn Hoàng Phương và sứ mệnh đặt nền móng vật lý lý thuyết
Không chỉ là một giáo sư vật lý tiên phong, Nguyễn Hoàng Phương là người thiết kế cả kiến trúc ban đầu cho vật lý lý thuyết Việt Nam. Ngay sau thời gian nghiên cứu cơ học lượng tử, thuyết tương đối và lý thuyết trường lượng tử tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna, ông lập tức trở về và biến tri thức đó thành chương trình giảng dạy cho sinh viên trong nước. Ông tổ chức các lớp buổi tối về cơ học lượng tử mở cho bất kỳ ai ham học, đồng thời duy trì đều đặn seminar vật lý lý thuyết hàng tuần từ năm 1959, tạo ra môi trường trao đổi học thuật hiếm hoi lúc bấy giờ. Quan trọng hơn, ông coi đào tạo nhà khoa học là nhiệm vụ trung tâm: khuyến khích dịch sách, tham gia biên soạn giáo trình, và xây dựng hệ thống bộ môn chuyên ngành, giúp sinh viên được tham gia nghiên cứu từ rất sớm. Đó là cách ông biến một bộ môn non trẻ thành một cộng đồng khoa học thực thụ.

Vượt thiếu thốn sau chiến tranh để xây dựng nền tảng khoa học
Nhìn lại giai đoạn sau chiến tranh, dễ thấy thách thức lớn nhất của vật lý Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà còn thiếu tri thức cập nhật. Tài liệu vật lý hiện đại bằng tiếng Việt gần như không có. Thay vì than phiền, các thế hệ giáo sư vật lý tiên phong chọn cách tự dịch, tự viết. Dưới định hướng của Nguyễn Hoàng Phương, chương trình đào tạo ở Khoa Vật lý được hiện đại hóa mạnh mẽ: ưu tiên cơ học lượng tử, khuyến khích dịch và xuất bản nhiều giáo trình kinh điển, trong đó có các tập trong bộ Vật lý lý thuyết của Landau – Lifshitz. Đến năm 1968, giáo trình nhiều môn đã đạt trình độ cao so với chương trình đào tạo ở Liên Xô khi đó. Câu nói đáng trích là: “Trong bối cảnh tư liệu tiếng Việt về vật lý hiện đại rất hạn chế, các giáo trình và bản dịch đã trở thành nguồn sống của cả một cộng đồng học thuật.” Những nỗ lực âm thầm đó mới là nền tảng thật sự của nền tảng khoa học Việt Nam.

Từ người thầy đầu tiên đến viện trưởng trẻ nhất: sức mạnh của truyền nghề
Điểm then chốt của hành trình xây dựng ngành không nằm ở vài cá nhân xuất sắc, mà ở chuỗi truyền nghề liên tục. Nguyễn Hoàng Phương không giữ tri thức cho riêng mình: ông trực tiếp đề xuất cử những học trò xuất sắc như Nguyễn Văn Hiệu sang Dubna cộng tác từ năm 1960, rồi tiếp tục giới thiệu Đào Vọng Đức, Cao Chi, Đoàn Nhương đi đào tạo. Chính lớp "học trò gửi gắm" này sau đó trở thành lực lượng nòng cốt của vật lý lý thuyết Việt Nam. Tiêu biểu là GS Nguyễn Văn Hiệu, người bảo vệ tiến sĩ khi mới 26 tuổi và chỉ bốn năm sau đã là Giáo sư Vật lý lý thuyết và Vật lý Toán tại Dubna và Đại học Lomonosov. Sau khi trở về nước, ông được giao nhiệm vụ thành lập Viện Vật lý đầu tiên và trở thành viện trưởng trẻ nhất trong lịch sử khoa học nước ta. Điều đáng nói là sau nhiều năm làm việc ở vị trí quản lý, ông vẫn đặt đào tạo thế hệ trẻ ở vị trí quan trọng – đúng tinh thần mà người thầy của mình đã khởi xướng.

Từ nền tảng vật lý lý thuyết đến khoa học hạt nhân và nghiên cứu cao
Nếu chỉ nhìn vào ứng dụng trước mắt, việc dạy thuyết tương đối hay lý thuyết hạt cơ bản cho một đất nước còn nghèo là điều khó hiểu. Nhưng chính các hoạt động sớm gắn với vật lý hạt nhân và vật lý lý thuyết ở Dubna đã mở cánh cửa cho Việt Nam bước vào các lĩnh vực nghiên cứu tiên tiến. Những nền tảng chương trình đào tạo được xây dựng theo chuẩn Liên Xô từ thập niên 1960 đã giúp một thế hệ nhà vật lý Việt Nam đủ sức làm việc bình đẳng trong các viện nghiên cứu quốc tế. Từ đó, các hướng nghiên cứu về hạt cơ bản, vật lý chất rắn, khoa học vật liệu và sau này là khoa học vũ trụ, công nghệ cao… mới có chỗ đứng. Một câu đáng ghi nhớ là: “Hành trình của GS Nguyễn Văn Hiệu gắn liền với những bước phát triển quan trọng của nền khoa học Việt Nam”. Nói cách khác, không có nền tảng vật lý lý thuyết vững chắc thì sẽ không có những bước tiến về hạt nhân, vật liệu hay các chương trình nghiên cứu không gian sau này.







