Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Công nghệ sinh học Việt Nam: từ nền tảng đến thị trường

Công nghệ sinh học Việt Nam: từ nền tảng đến thị trường
Sở thích|Phổ biến khoa học chuyên gia

Từ Nghị quyết 36 đến áp lực phải bước ra thị trường

Công nghệ sinh học Việt Nam là tập hợp các hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các giải pháp sinh học tiên tiến vào nông nghiệp, y dược, môi trường và công nghiệp nhằm phục vụ phát triển bền vững, chuyển đổi số sinh học và hình thành một ngành kinh tế tri thức mới có khả năng cạnh tranh khu vực và toàn cầu.

Ba năm thực hiện Nghị quyết 36 về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học đã tạo những chuyển động rõ rệt ở các địa phương, tiêu biểu là Huế, nơi công nghệ sinh học đi từ bảo tồn nguồn gen, nông nghiệp hữu cơ, xử lý môi trường đến công nghệ gen và y học chính xác. Nhưng đó mới là giai đoạn nền tảng, khi các viện – trường đo được sức mạnh qua số đề tài, phòng thí nghiệm và nhân lực, chứ chưa phải bằng số sản phẩm và doanh nghiệp trên thị trường. Nếu tiếp tục hài lòng với “nội bộ khoa học”, Nghị quyết 36 sẽ dừng ở những bản báo cáo đẹp, thay vì trở thành động lực tăng trưởng.

Chính vì vậy, giai đoạn 2023-2026 cần được nhìn nhận như một “bàn đạp” hơn là thành tựu trọn vẹn: chúng ta đã có nền nhưng thiếu cơ chế kéo công nghệ sinh học bước ra khỏi phòng thí nghiệm và đối mặt với tiêu chuẩn khắt khe của thị trường.

Huế: hệ sinh thái mạnh nhưng điểm nghẽn thương mại hóa

Huế là ví dụ điển hình cho nghịch lý của công nghệ sinh học Việt Nam: nền tảng nghiên cứu tốt nhưng thương mại hóa công nghệ yếu. Ba năm vừa qua, địa phương này đã cụ thể hóa Nghị quyết 36 bằng Kế hoạch 135-KH/TU để gắn công nghệ sinh học với phát triển kinh tế – xã hội và lợi thế bản địa. Đồng thời, Nghị quyết 57 về đột phá khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia đã đặt công nghệ sinh học vào một không gian phát triển rộng hơn, ngang hàng với AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, năng lượng sạch trong kế hoạch khoa học – công nghệ 2026-2030 của thành phố.

Về năng lực, riêng Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế giai đoạn 2021-2025 đã chủ trì 4 đề tài cấp quốc gia, 9 đề tài cấp bộ, 5 đề tài, dự án cấp thành phố; đào tạo 8 tiến sĩ sinh học giai đoạn 2023-2026 và công bố 194 bài báo, trong đó 132 bài quốc tế, kèm 1 sáng chế, 2 giải pháp hữu ích, 2 nhãn hiệu hàng hóa và hơn 7 quy trình chuyển giao. Đó là con số mà nhiều địa phương mơ ước. Nhưng báo cáo cũng thẳng thắn thừa nhận chuyển giao và thương mại hóa còn chậm, nhiều mô hình dừng ở quy mô thử nghiệm, liên kết với doanh nghiệp thiếu chặt chẽ.

Quan điểm cần nêu rõ là: nếu giai đoạn 2025-2030 vẫn tiếp tục đếm đề tài thay vì đếm hợp đồng, sản phẩm và doanh nghiệp, Huế sẽ bỏ lỡ cơ hội trở thành cực tăng trưởng công nghệ sinh học của miền Trung. Thành ủy Huế đã đặt mục tiêu đến 2030 hoàn thiện Đề án Trung tâm Công nghệ sinh học cấp quốc gia, Khu Công nghệ cao Huế và đưa ít nhất 10–20 sản phẩm công nghệ sinh học có chất lượng, khả năng cạnh tranh ra thị trường. Vấn đề không còn là “có làm hay không”, mà là “ai chịu trách nhiệm nếu không đạt được các chỉ số thị trường này”.

TP.HCM: khi sinh học gặp AI và kinh tế tuần hoàn

Trong khi Huế loay hoay với bài toán thương mại hóa, TP.HCM đang thử một hướng đi khác: đưa công nghệ sinh học vào không gian thị trường ngay từ khâu trình diễn và kết nối doanh nghiệp. Ngày 25/9, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố phối hợp một trung tâm khởi nghiệp sáng tạo tổ chức sự kiện trình diễn – kết nối công nghệ với chủ đề “Công nghệ sinh học trong kỷ nguyên số và biến đổi khí hậu: Giải pháp xanh và bền vững” tại Sàn Giao dịch Công nghệ TP.HCM. Sự kiện có 2 báo cáo chuyên sâu, 4 nội dung trình diễn, không gian trưng bày của 22 đơn vị với gần 40 công nghệ, thiết bị, tập trung vào giải trình tự gen thế hệ mới, AI, vaccine thủy sản, eDNA, vi sinh và các giải pháp nông nghiệp, môi trường.

Theo Phó giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, công nghệ sinh học đã trở thành một trụ cột quan trọng trong định hướng phát triển khoa học – công nghệ của thành phố, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu. Thành phố đã ban hành Quyết định 2949/QĐ-UBND phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp đến năm 2030, coi đó là cơ sở để đặt mục tiêu và giải pháp phù hợp với đặc thù khu vực phía Nam. Điểm đáng chú ý là Sàn Giao dịch Công nghệ hiện có hơn 25.000 công nghệ, thiết bị của hơn 2.500 nhà cung ứng sẵn sàng chuyển giao, đóng vai trò cầu nối giữa nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp và kết quả nghiên cứu.

Ở đây, công nghệ sinh học không tách rời mà hòa vào chuyển đổi số sinh học, khi các nhà khoa học nhấn mạnh vai trò kết hợp AI, Omics và hệ thống Biofoundry tự động hóa. Định hướng xây dựng HCMC Green Bioeconomy Hub giai đoạn 2026–2035, coi chất thải đô thị và nông nghiệp như nguồn nguyên liệu cho sản phẩm sinh học có giá trị, cho thấy công nghệ sinh học đang được đặt đúng vị trí: trung tâm của kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Quan điểm cần nhấn mạnh là: không kết nối doanh nghiệp, mọi câu chuyện về chuyển đổi số sinh học sẽ chỉ dừng ở bài thuyết trình đẹp mắt.

Công nghệ sinh học Việt Nam: từ nền tảng đến thị trường

Từ nền tảng sang sản phẩm: chiến lược 2025-2030 phải thay thước đo

Dù ở Huế hay TP.HCM, mẫu số chung của giai đoạn 2023-2026 là đã xây xong phần lớn nền móng thể chế và hệ sinh thái cho công nghệ sinh học Việt Nam: từ Nghị quyết 36, Nghị quyết 57 đến các kế hoạch cấp địa phương về công nghệ sinh học trong nông nghiệp, chuyển đổi số và công nghiệp sáng tạo. Vấn đề của giai đoạn 2025-2030 là dám thay hệ quy chiếu đánh giá: không đo bằng số đề tài, hội thảo, bài báo, mà đo bằng tỷ lệ kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, số hợp đồng chuyển giao, sản phẩm ra thị trường, doanh thu từ tài sản trí tuệ, số doanh nghiệp khởi nguồn từ viện – trường và vốn tư nhân cho R&D.

Ở tầm chính sách, điều này đòi hỏi thay đổi cách phân bổ nguồn lực: ưu tiên các nhóm nghiên cứu có doanh nghiệp đồng hành từ đầu; hỗ trợ thủ tục chuẩn hóa, kiểm định, chứng nhận, xác định quy mô, mô hình sản xuất – những bước mà một công nghệ phải vượt qua trước khi đến được nhà máy và thị trường. Ở tầm địa phương, cần xem các sàn giao dịch công nghệ, không gian trình diễn, mô hình kinh tế tuần hoàn… như hạ tầng thiết yếu để kéo nhà khoa học ra khỏi vùng an toàn phòng thí nghiệm.

Với người dân và doanh nghiệp nhỏ, lợi ích sẽ rõ ràng nếu công nghệ sinh học giải quyết được vấn đề gần gũi: chế phẩm vi sinh xử lý phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi để sản xuất phân hữu cơ, than sinh học, hay giải pháp đánh giá hệ sinh thái, truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ gen. Khi các ứng dụng này được chuẩn hóa và thương mại hóa với chi phí hợp lý, công nghệ sinh học mới thực sự trở thành công cụ cho phát triển bền vững chứ không phải đặc quyền của phòng thí nghiệm.

Công nghệ sinh học Việt Nam: từ nền tảng đến thị trường

Kết luận: đặt doanh nghiệp vào trung tâm chuyển đổi số sinh học

Công nghệ sinh học đã được khẳng định là trụ cột của phát triển khoa học – công nghệ trong kỷ nguyên chuyển đổi số và biến đổi khí hậu. Nhưng trụ cột này chỉ có ý nghĩa khi giai đoạn 2025-2030 biến được tiềm lực nghiên cứu thành chuỗi giá trị sản phẩm – doanh nghiệp – thị trường. Câu hỏi “vì sao tiềm lực mạnh mà sản phẩm ít” ở Huế thực chất là câu hỏi chung của cả nước.

Câu trả lời, theo góc nhìn chính sách, là phải đưa doanh nghiệp vào trung tâm chuỗi đổi mới sáng tạo. Thương mại hóa công nghệ không phải là bước “hậu nghiên cứu” mà phải được thiết kế ngay từ lúc hình thành đề tài: ai sẽ mua, ai chịu rủi ro thử nghiệm, ai tài trợ giai đoạn chuẩn hóa và mở rộng quy mô. Nơi nào dám chuyển thước đo thành công từ “bao nhiêu đề tài” sang “bao nhiêu hợp đồng và doanh nghiệp”, nơi đó sẽ dẫn dắt công nghệ sinh học Việt Nam.

Trong bức tranh phát triển bền vững, công nghệ sinh học không đứng một mình: nó gắn với AI, dữ liệu lớn, vật liệu mới, năng lượng sạch, robot, y dược, du lịch thông minh. Chiến lược khôn ngoan cho giai đoạn tiếp theo là coi chuyển đổi số sinh học như trục kết nối những công nghệ này, tạo ra các cụm đổi mới sáng tạo gắn với nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp. Khi đó, con đường từ phòng thí nghiệm đến thị trường sẽ ngắn hơn, và công nghệ sinh học mới xứng đáng với vị thế trụ cột mà các nghị quyết đã đặt ra.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!