Tình nguyện gieo chữ: Khi giáo dục trẻ em nghèo trở thành sứ mệnh đời người
Giáo viên dạy học miễn phí cho trẻ em nghèo là những người thầy, cô hoặc cán bộ, người lao động bình thường tự nguyện dùng thời gian, sức khỏe và cả đồng lương ít ỏi của mình để mở lớp học tình thương, dạy chữ và dạy người cho các em nhỏ không có điều kiện đến trường, coi giáo dục như một sứ mệnh hơn là nghề nghiệp. Họ không xuất hiện trên bục giảng sáng đèn sân khấu mà lặng lẽ trong các ngõ nhỏ, xóm trọ, bản làng vùng biên, nơi mỗi trang vở là một cuộc đấu tranh với cái nghèo, mỗi buổi học là một cơ hội níu trẻ khỏi vòng xoáy lao động sớm. Đáng chú ý, nỗ lực ấy ngày càng được Nhà nước ghi nhận, trong đó có những Bằng khen của Thủ tướng dành cho các giáo viên tình nguyện tiêu biểu.
Lớp học giữa núi cao: dạy học vùng biên không chỉ là chuyện con chữ
Ở xã miền núi Ngọc Sơn, khi nhiều gia đình quây quần bên bữa cơm tối, lớp học miễn phí của Thượng úy Công an xã Bùi Văn Thông mới bắt đầu sáng đèn từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối. Ngọc Sơn là địa bàn vùng núi, giao thông cách trở, các điểm bản cách nhau 10–15km, đời sống người dân còn khó khăn nên việc học của con em dễ bị bỏ lại phía sau. Chính trong bối cảnh đó, một sĩ quan công an khoác sắc phục đứng lớp đã gửi đi thông điệp mạnh mẽ: an ninh vùng biên không chỉ là tuần tra, mà còn là giữ vững “biên giới tri thức”. Anh Thông tập trung phụ đạo cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học lực yếu, nhất là các em chuẩn bị thi vào lớp 10 – ngưỡng cửa mà nếu trượt, rất nhiều em sẽ phải rẽ sang con đường lao động sớm đầy rủi ro.
Ban đầu lớp chỉ vài học sinh, sau đó lan ra thành 3 lớp với hơn 100 học sinh lớp 9 và 15 học sinh lớp 11, học từ 2 đến 3 buổi mỗi tuần. Có thời điểm, gần 100 em cùng tìm đến lớp học tình thương này. Kết quả không chỉ là con số 9 em đỗ lớp 10 ngay năm đầu, hay tỷ lệ đỗ cấp 3 từ 70–80%, có nhóm đạt 100%. Quan trọng hơn, những em từng mặc cảm vì học lực yếu nay dám mơ đến trường nội trú, dám nộp hồ sơ vào những môi trường kỷ luật như Trường Thiếu sinh quân miền Bắc. Khi một thượng úy vừa dạy Toán, vừa tuyên truyền pháp luật, lại kiên nhẫn khẳng định với học trò rằng xuất phát điểm khó khăn không có nghĩa là phải từ bỏ ước mơ, đó là giáo dục như một sự dẫn đường về nhân cách chứ không chỉ là luyện thi.

Người phụ nữ U80 bán vé số, giữ lửa lớp học tình thương giữa phố
Nếu lớp học vùng biên của Thượng úy Thông cho thấy một mô hình dạy học vùng biên đầy sáng tạo, thì câu chuyện của cô Nguyễn Thị Ba ở phường Thủ Dầu Một lại chứng minh sức bền đáng kinh ngạc của một giáo viên tình nguyện giữa đô thị. Vốn là giáo viên tiểu học, sau khi nghỉ hưu, cô phải đi bán vé số mưu sinh. Trên hành trình ấy, cô gặp những em nhỏ theo cha mẹ bán vé số, không được đến trường, không giấy tờ, không cơ hội hòa vào dòng chảy giáo dục chính quy. Thay vì quay lưng, cô xin vào dạy lớp học tình thương địa phương từ năm 2016, và gắn bó suốt 10 năm, dạy miễn phí cho trẻ em nghèo, ban ngày các em đi bán vé số, tối đến học chữ với cô.
Khác với nhiều khóa học kỹ năng đang được thương mại hóa, lớp học của cô Ba vận hành bằng sức khỏe tuổi gần 80 và thu nhập ít ỏi từ việc bán vé số, trong đó một phần cô tự nguyện dùng để hỗ trợ học sinh và người khó khăn. Ngày 29-9, Đảng ủy phường tổ chức lễ trao Bằng khen của Thủ tướng cho cô – một lời đáp chính thức của Nhà nước trước sự hy sinh thầm lặng của một cô giáo dạy học miễn phí cho trẻ em nghèo. Đồng thời, lãnh đạo thành phố đến lớp, tặng cô máy tính xách tay, tặng sách giáo khoa, đồ dùng học tập, bánh trung thu cho cô trò lớp học tình thương, và chỉ đạo rà soát, cấp giấy tờ pháp lý để các em được chăm sóc sức khỏe, được công nhận kết quả học tập. Khi chính quyền vào cuộc, lớp học tình thương nhỏ bé bỗng trở thành điểm khởi đầu cho một chuỗi thay đổi chính sách nhân văn hơn đối với trẻ em ngoài nhà trường.

Vì sao những Bằng khen từ Thủ tướng có ý nghĩa vượt ra ngoài một tờ giấy?
Có ý kiến cho rằng giáo viên tình nguyện vốn làm vì tâm, đâu cần danh hiệu. Nhưng trong bối cảnh bất bình đẳng giáo dục chưa thể xóa bỏ trong ngày một ngày hai, việc Thủ tướng tặng Bằng khen cho những người như cô Ba là tối quan trọng. Nó gửi một tín hiệu rõ ràng: Nhà nước không coi những lớp học này là “tự phát” bên lề hệ thống, mà là một phần của nỗ lực thực hiện Chỉ thị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bằng khen cũng tạo áp lực tích cực lên chính quyền cơ sở: không thể để một phụ nữ gần 80 tuổi vừa bán vé số, vừa dạy học miễn phí trong điều kiện thiếu thốn mà không có hỗ trợ nào. Thực tế, ngay sau sự quan tâm của lãnh đạo, phường đã khẩn trương cấp giấy tờ cho học sinh, mở đường cho các em được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận hệ thống giáo dục chính quy. Đây là minh chứng cho thấy, khi tấm gương cá nhân được nâng tầm thành chính sách, lợi ích dồn về phía trẻ em chứ không dừng ở danh dự người lớn.

Từ những lớp học nhỏ đến tầm nhìn lớn về công bằng giáo dục
Điểm chung giữa thượng úy dạy học vùng biên ở Ngọc Sơn và cô giáo U80 bán vé số là họ đều coi giáo dục trẻ em nghèo là trách nhiệm công dân, chứ không đợi đó là nhiệm vụ được phân công. Họ dạy Toán, dạy chữ, nhưng đồng thời dạy học trò hiểu về pháp luật, về ước mơ, về lòng tự trọng và tinh thần vươn lên, biến lớp học tình thương thành không gian bồi dưỡng nhân cách hơn là nơi “chữa cháy” kiến thức. Tuy vậy, chúng ta không nên lãng mạn hóa sự hy sinh ấy để rồi coi nó như giải pháp lâu dài cho những lỗ hổng hệ thống. Điều đất nước cần là biến tinh thần giáo viên tình nguyện thành chính sách: hỗ trợ tài chính và chuyên môn cho lớp học cộng đồng; công nhận kết quả học tập; tạo cơ chế để công an, đoàn thể, giáo viên nghỉ hưu tham gia dạy học vùng biên, vùng khó mà không phải “tự bơi”. Khi những tấm gương được tôn vinh từ cấp cao nhất đến làng bản xa nhất, thông điệp gửi đến thế hệ trẻ rất rõ: trong xã hội này, ai cũng có thể trở thành một phần của công bằng giáo dục, bắt đầu từ việc dành một buổi tối trong tuần để gieo thêm vài con chữ.







