Cột mốc đến sớm, giữa một năm nhiều bất ổn
Xuất nhập khẩu Việt Nam là tổng giá trị hàng hóa được đưa ra nước ngoài và nhập từ nước ngoài, phản ánh mức độ kết nối của nền kinh tế với thị trường quốc tế. Ngày 29/10/2026, tổng kim ngạch lần đầu vượt 1.000 tỷ USD, khi năm vẫn còn hai tháng; đây không chỉ là một kỷ lục, mà còn là dấu hiệu cho thấy hoạt động thương mại duy trì sức bật giữa môi trường nhiều biến động. Cột mốc này càng đáng chú ý bởi xung đột địa chính trị và chiến sự tiếp tục làm thay đổi nhịp độ thương mại toàn cầu, trong khi giá năng lượng tăng gây áp lực lên chi phí sản xuất và lạm phát. Với một nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam không đứng ngoài những cú sốc ấy. Vì thế, kết quả cho thấy doanh nghiệp vẫn giữ được nhịp sản xuất, giao dịch và đơn hàng, dù không đồng nghĩa rủi ro bên ngoài đã giảm.
Theo Cục Hải quan, tính đến ngày 29/10, xuất khẩu đạt 493,64 tỷ USD, tăng 27,2% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 507,66 tỷ USD, tăng 37,6%. Hai chiều cùng tăng mạnh mới tạo nên quy mô kỷ lục: xuất khẩu đem hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế, còn nhập khẩu cung cấp đầu vào cho sản xuất và lưu thông. Nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu là điểm cần theo dõi, nhưng riêng con số này chưa đủ để kết luận về hiệu quả hay sức khỏe thương mại. Điều đáng mừng là Cục Hải quan dự kiến xuất khẩu cả năm tăng trên 25%, cao hơn mục tiêu 15–16% của Chính phủ. Dù vậy, giá trị kim ngạch lớn chỉ thực sự có ý nghĩa dài hạn nếu đi cùng năng lực sản xuất và giá trị gia tăng trong nước.

Đà tăng trưởng được bồi đắp qua nhiều năm
Mốc 1.000 tỷ USD không xuất hiện đột ngột. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, kim ngạch thương mại lần lượt vượt các ngưỡng 100 tỷ USD năm 2007, 500 tỷ USD năm 2019 và 900 tỷ USD năm 2025. Riêng giai đoạn 2016–2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 6.120 tỷ USD, bình quân 612 tỷ USD mỗi năm; mức năm 2025 cao gấp 2,65 lần năm 2016, với tốc độ tăng trưởng bình quân 11%/năm. Quá trình mở rộng này cho thấy doanh nghiệp đã ngày càng gắn với thị trường quốc tế, chứ không chỉ hưởng lợi từ một mùa đơn hàng thuận lợi. Tuy nhiên, tăng nhanh về quy mô cũng khiến nền kinh tế nhạy hơn với biến động nhu cầu, năng lượng và logistics bên ngoài. Kỷ lục vì vậy vừa là thành quả, vừa là lời nhắc phải nâng sức chống chịu.
Một động lực quan trọng là mạng lưới quan hệ kinh tế và các hiệp định thương mại tự do, giúp doanh nghiệp tiếp cận thêm thị trường và mở rộng danh mục hàng hóa. Đến ngày 29/10/2026, Việt Nam có quan hệ thương mại với 237 nước và vùng lãnh thổ. Xuất khẩu sang một số thị trường có hiệp định thương mại tự do tăng đáng kể: Nhật Bản tăng 18,6%, Hàn Quốc tăng 19,1%, Canada tăng 14,4% và Mexico tăng 42,5%. Những con số này cho thấy đa dạng hóa thị trường không phải khẩu hiệu xa vời; nó có thể giúp doanh nghiệp tìm thêm đầu ra khi một thị trường gặp khó. Nhưng cơ hội từ hiệp định chỉ thành kết quả khi doanh nghiệp đáp ứng được quy tắc, tiêu chuẩn và yêu cầu giao hàng của từng đối tác.

Vị thế lớn hơn đi kèm yêu cầu nâng chất
Việt Nam hiện xếp thứ 18 thế giới về xuất khẩu, thứ 20 về nhập khẩu và đứng thứ hai ASEAN, sau Singapore. Đây là nền tảng đáng kể để chuỗi cung ứng Việt Nam giữ vai trò mắt xích quan trọng trong thương mại toàn cầu. Quy mô giao dịch tăng mở ra cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, phát triển thị trường và tham gia sâu hơn vào mạng lưới cung ứng quốc tế. Nhưng vị trí trên bảng xếp hạng không tự động đồng nghĩa với quyền quyết định lớn hơn trong chuỗi giá trị. Nếu phần lớn giá trị nằm ở khâu nhập đầu vào, gia công hoặc phụ thuộc vào năng lực bên ngoài, kim ngạch cao vẫn có thể đi cùng phần lợi ích nội địa hạn chế. Thước đo tiếp theo vì thế không nên chỉ là tổng trị giá hàng hóa qua biên giới, mà còn là mức độ doanh nghiệp trong nước tạo ra giá trị và làm chủ hoạt động sản xuất.
Với người dân, kỷ lục thương mại có thể ít gây chú ý hơn giá cả hay việc làm, nhưng quá trình đưa hàng hóa qua biên giới ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian thông quan, chi phí logistics, tiến độ giao hàng và khả năng thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp. Những yếu tố này có thể tác động đến kế hoạch sản xuất, nguồn hàng và tính ổn định của hoạt động kinh doanh. Cải cách thủ tục hải quan và môi trường kinh doanh vì thế không phải việc riêng của doanh nghiệp xuất nhập khẩu: quy trình thuận lợi hơn giúp họ chủ động lưu chuyển hàng hóa và quản trị chuỗi cung ứng. Để giữ đà trong những tháng còn lại và sau đó, Việt Nam cần hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do, đồng thời nâng năng lực khu vực trong nước và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa.

Kỷ lục là điểm khởi đầu cho bài toán cạnh tranh
Việc cán mốc 1.000 tỷ USD trước khi năm kết thúc là thành tựu đáng ghi nhận: xuất khẩu tăng mạnh, nhập khẩu mở rộng và mạng lưới thị trường rộng giúp Việt Nam duy trì đà thương mại trong bối cảnh nhiều sức ép. Nhưng không nên xem tổng kim ngạch là đích đến cuối cùng. Thách thức lớn hơn là chuyển quy mô giao dịch thành năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh thực chất của doanh nghiệp trong nước. Cải thiện thủ tục hải quan, môi trường kinh doanh và khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do sẽ quyết định liệu kỷ lục này có tạo nền móng cho tăng trưởng bền vững hay chỉ là một con số ấn tượng. Cột mốc lịch sử chứng minh Việt Nam đã kết nối sâu với thế giới; bước tiếp theo là làm sao để doanh nghiệp Việt tạo được phần giá trị lớn hơn trong chính mạng lưới ấy.






