Từ hỗ trợ chung đến tháo gỡ từng rào cản trước ngày tựu trường
Chuẩn bị năm học mới cho học sinh dân tộc thiểu số vùng núi là hệ thống chính sách giáo dục hướng vào những rào cản rất cụ thể, từ hỗ trợ tiếng Việt, sách giáo khoa đến dinh dưỡng và đường đến trường an toàn, nhằm bảo đảm các em có đủ điều kiện ngôn ngữ, vật chất và sức khỏe để bắt đầu quá trình học tập một cách tự tin và ổn định. Với học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, một năm học mới thuận lợi không thể chỉ đo bằng ngày khai giảng rộn ràng mà phải bắt đầu từ việc các em đủ tiếng Việt để theo bài, đủ sách để học, đủ dinh dưỡng để ở lại trường và có hành trình đến lớp an toàn. Trước thềm năm học 2026-2027, nhiều địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã ban hành hoặc đưa vào áp dụng các chính sách giáo dục mới, chuyển từ hỗ trợ dàn đều sang nhắm trúng những “điểm nghẽn” đang cản bước học sinh đến trường. Đây là một bước chuyển quan trọng: thay vì chờ trẻ vấp ngã trong năm học rồi mới can thiệp, chính quyền địa phương đang chủ động gỡ rào cản ngay từ trước ngày tựu trường, đưa giáo dục vùng núi tới gần hơn với yêu cầu công bằng cơ hội cho mọi trẻ em.

Tiếng Việt trước lớp Một: “chìa khóa” hòa nhập và học tập bình đẳng
Trong giáo dục vùng núi, hỗ trợ tiếng Việt không còn là “phụ lục” mà trở thành điều kiện tiên quyết để học sinh dân tộc thiểu số bắt kịp chương trình phổ thông. Một trong những chính sách đi thẳng vào điểm nghẽn đầu cấp là Nghị quyết số 22/2026/NQ-HĐND của Quảng Trị về dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1. Giáo viên được hỗ trợ 360.000 đồng để mua bộ đồ dùng dạy học, mỗi trẻ được hỗ trợ 310.000 đồng mua bộ đồ dùng học tập và tiền dạy 150.000 đồng/tiết, tối đa 80 tiết trong dịp hè. Đây là con số biết nói: Nhà nước chấp nhận chi trả trực tiếp cho giai đoạn “tiền lớp Một”, thay vì coi đó là chuyện tự lo của gia đình. Đắk Lắk cũng ban hành chính sách nhân lực, kinh phí dạy tiếng Việt trước lớp 1, ưu tiên giáo viên am hiểu tiếng nói, văn hóa địa phương và phương pháp dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai; mỗi trẻ được cấp một bộ tài liệu học tiếng Việt và hỗ trợ mua đồ dùng học tập tối đa 150.000 đồng.

Lũng Phìn: khi lớp làm quen tiếng Việt trở thành bước đệm bắt buộc
Nếu Quảng Trị và Đắk Lắk cho thấy hướng đi về chính sách, Lũng Phìn (Tuyên Quang) đang chứng minh cách biến chính sách thành thực tế lớp học. Xã Lũng Phìn tăng cường tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp Một, tạo nền tảng để các em tự tin hòa nhập môi trường học tập mới. Ba trường tiểu học trên địa bàn đã chủ động tổ chức các lớp làm quen, tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một, mở 17 lớp với hơn 400 trẻ tham gia. Điều đáng chú ý là cách dạy: giáo viên không đặt nặng truyền đạt kiến thức như một lớp học chính khóa mà tạo môi trường để trẻ được nghe, nói và sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên. Từ những câu chào hỏi, giới thiệu bản thân, gọi tên đồ vật đến kể câu chuyện ngắn, trẻ được khuyến khích giao tiếp bằng tiếng Việt trong tình huống gần gũi, kết hợp trò chơi, tranh ảnh, bài hát để “học mà chơi, chơi mà học”. Nhìn từ đây, hỗ trợ tiếng Việt không chỉ là thêm vài buổi ôn luyện, mà là “chìa khóa” giúp trẻ bước qua khoảng cách ngôn ngữ, tránh bị sốc khi vào lớp Một và có cơ hội tham gia bình đẳng vào mọi hoạt động học tập.

Sách giáo khoa và dinh dưỡng: bữa ăn, bộ sách quyết định khả năng bám trường
Tiếng Việt là nền tảng, nhưng nếu thiếu sách vở và dinh dưỡng, nỗ lực chuẩn bị năm học mới cho giáo dục vùng núi sẽ khó đi đến cùng. Thành phố Huế đã thông qua Nghị quyết số 47/NQ-HĐND ngày 26/7/2026, miễn phí sách giáo khoa cho học sinh từ năm học 2026-2027. Một bộ sách được cấp đúng lúc giảm gánh nặng chi đầu năm, hạn chế tình trạng học sinh miền núi phải dùng sách thiếu hoặc không đồng bộ. Ở khía cạnh bữa ăn, Nghị quyết số 85/2026/NQ-HĐND của Gia Lai hỗ trợ thêm 160.000 đồng/trẻ mầm non/tháng cho tiền ăn trưa, tối đa 9 tháng, bên cạnh việc một số nhóm học sinh dân tộc thiểu số bán trú được hỗ trợ 700.000 đồng/tháng. Đà Nẵng lại chọn hướng can thiệp bằng sữa tươi: trẻ 24-36 tháng tuổi được dùng 110 ml sữa/ngày, trẻ mẫu giáo và tiểu học 180 ml/ngày, tối đa 5 ngày/tuần. Những quyết định này cho thấy một thực tế thường bị bỏ quên: ở vùng cao, học phẩm là chi phí đầu năm, còn bữa ăn quyết định khả năng bám trường từng ngày.

Từ nội trú biên giới đến đường đến trường an toàn: cần đo bằng kết quả học tập
Các chính sách giáo dục mới không chỉ dừng ở lớp học mà mở rộng tới điều kiện ở, đường đi học – những yếu tố sống còn với giáo dục vùng núi. Nhiều địa phương đã chuẩn hóa danh mục trang cấp cho học sinh trường nội trú xã biên giới: Tuyên Quang với Quyết định số 101/2026/QĐ-UBND, Sơn La với Quyết định số 42/2026/QĐ-UBND, Lạng Sơn với Quyết định số 49/2026/QĐ-UBND. Học sinh được cấp đồng phục, học phẩm hằng năm; chăn, màn, chiếu, đệm, gối và một số vật dụng sinh hoạt được cấp một lần mỗi cấp học, là căn cứ để nhà trường mua sắm, công khai cấp phát. Tại Lào Cai, Quyết định số 22/2026/QĐ-UBND quy định địa bàn, khoảng cách để xác định học sinh không thể đi, về trong ngày, với ngưỡng 2 km cho tiểu học, 4 km cho THCS và 6 km cho THPT, giáo dục thường xuyên, đồng thời tính đến địa hình dốc, suối, nguy hiểm. Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 của Thủ tướng yêu cầu bảo đảm đủ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và sách giáo khoa, ưu tiên nguồn lực cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới. Tuy nhiên, điều cần đo đếm cuối cùng không phải số văn bản mà là số học sinh ra lớp đúng hạn, tỷ lệ chuyên cần, tình trạng dinh dưỡng, khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ vào lớp 1 và số em có nguy cơ bỏ học được giữ lại.







