Điện vừa là đầu vào tăng trưởng, vừa là nền tảng an ninh quốc gia
An ninh năng lượng là khả năng bảo đảm nguồn năng lượng liên tục, đủ đáp ứng nhu cầu phát triển với chi phí hợp lý, đồng thời giúp hệ thống chống chịu trước gián đoạn và biến động. Với Việt Nam, yêu cầu này gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng hai chữ số: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ kéo theo nhu cầu đầu tư trung tâm dữ liệu, từ trung tâm dữ liệu quốc gia đến các cơ sở của bộ, ngành và địa phương. Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh phải bảo đảm điện cho tăng trưởng và an ninh năng lượng quốc gia; định hướng này cũng gắn với mục tiêu thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Nói cách khác, thiếu điện không chỉ làm khó doanh nghiệp mà còn đặt giới hạn lên tham vọng phát triển. Vì vậy, an ninh năng lượng phải được đo bằng khả năng biến kế hoạch nguồn điện thành công suất thực tế.

Quy hoạch chỉ có giá trị khi dự án có thể triển khai
Ngày 23/10 tại Hà Nội, một hội thảo về an ninh năng lượng trong chuyển đổi xanh và kỷ nguyên số tập trung thảo luận cả rủi ro an ninh mạng lẫn khả năng bảo đảm nguồn cung, tiến độ dự án và tính bền vững của hệ thống. Tại đây, Tiến sĩ Nguyễn Hùng Dũng lưu ý rằng điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đặt ra câu hỏi về nguồn điện mới, cơ chế giá điện và cân đối cung – cầu. Chính phủ cũng đang chỉ đạo Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, điều chỉnh và cập nhật quy hoạch để các dự án bổ sung có tính khả thi, không chậm tiến độ gây ảnh hưởng đến cung ứng điện và khả năng giải tỏa công suất lưới. Đây là bước cần thiết, nhưng chưa đủ: danh mục trong quy hoạch không tự biến thành nhà máy. Muốn đầu tư dự án điện, nhà đầu tư phải thấy rõ thủ tục, phương án huy động và doanh thu có thể dự kiến.
Bài toán nguồn cung điện càng khó vì thủy điện còn ít dư địa phát triển, trong khi lựa chọn nhiệt điện phải tính đến cam kết phát thải ròng bằng không vào năm 2050. Hệ thống cần phối hợp nhiều nguồn như thủy điện, nhiệt điện than, điện khí LNG, điện mặt trời và điện gió, nhưng tỷ trọng phải được tính toán phù hợp với chi phí và khả năng vận hành. Nhu cầu điện tiếp tục tăng, chuyển dịch năng lượng diễn ra nhanh, còn thị trường năng lượng thế giới vẫn biến động; nếu nguồn mới chậm tiến độ, áp lực cung ứng sẽ tăng vào lúc nhu cầu cao hoặc nhiên liệu và điều kiện vận hành bất lợi.

Cơ chế giá và hợp đồng quyết định dòng vốn có vào hay không
Vướng mắc không nằm riêng ở việc chọn công nghệ, mà ở khả năng chứng minh dự án có thể thu hồi vốn. Điện gió ngoài khơi cần quy định cụ thể hơn về khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư và cách triển khai; một số dự án hợp tác quốc tế quy mô lớn đã nghiên cứu, đàm phán nhiều năm nhưng chưa tiến triển như kỳ vọng. Với điện khí LNG, biến động giá nhiên liệu nhập khẩu và khả năng được huy động trong suốt vòng đời dự án khiến phương án tài chính nhạy cảm. Điện mặt trời và các nguồn mới khác cũng cần khuôn khổ phù hợp để thu hút vốn. Khi cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện còn bất định, nhà đầu tư khó dự kiến doanh thu, thu xếp vốn và chốt quyết định. Bởi vậy, cơ chế giá không thể chỉ hướng tới tín hiệu đầu tư; nó còn phải phản ánh chi phí hợp lý mà không vượt quá sức chịu đựng của nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân.
Tiến sĩ Nguyễn Hùng Dũng cho rằng các cơ quan quản lý cần phối hợp xử lý đồng bộ giá điện, hợp đồng mua bán điện, huy động công suất và cân đối cung – cầu. Nhận định này chạm đúng điểm nghẽn: mỗi mắt xích đều ảnh hưởng đến doanh thu và rủi ro của dự án. Nếu nhà máy không rõ khi nào được huy động, hợp đồng không phân bổ rủi ro hợp lý, còn giá bán không giúp bù chi phí hợp lý, vốn sẽ đứng ngoài dù dự án đã có tên trong quy hoạch. Cơ chế nhất quán không có nghĩa là bảo đảm lợi nhuận cho nhà đầu tư bằng mọi giá; đó là quy tắc đủ rõ để các bên biết mình chịu rủi ro nào và người sử dụng điện không phải gánh một cấu trúc chi phí thiếu minh bạch.

Đồng bộ luật, thủ tục và lợi ích người dùng
Sửa đổi Luật Điện lực vì thế cần ăn khớp với pháp luật về quy hoạch, đầu tư, đất đai và đấu thầu, thay vì tạo thêm những lớp thủ tục chồng lấn. Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư. Chính phủ dự kiến chỉ đạo Bộ Công Thương tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, cơ quan thẩm tra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan liên quan để hoàn thiện dự thảo luật; các dự thảo nghị định, thông tư đi kèm cũng cần được cập nhật đồng bộ, kịp thời. Đây là việc cần làm song song, không phải phần việc có thể để sau: luật rõ nhưng văn bản hướng dẫn chậm hoặc lệch nhau vẫn khiến dự án mắc kẹt.
Mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là gọi được vốn, mà là giữ quyền tiếp cận điện với giá hợp lý cho người dân, đồng thời bảo đảm lợi ích chính đáng của Nhà nước và nhà đầu tư. Nếu cơ chế giá không cân bằng được các bên, nguồn lực cho dự án mới sẽ khó huy động và quy hoạch khó thành hiện thực. Kết luận cần thẳng thắn: muốn bảo đảm điện cho tăng trưởng, Việt Nam phải coi tính khả thi về giá, hợp đồng, thủ tục và vận hành là một phần của quy hoạch ngay từ đầu. Một khuôn khổ đồng bộ, ổn định và minh bạch mới có thể đưa vốn vào dự án, đưa công suất lên lưới và bảo vệ an ninh năng lượng.






