Từ nghị quyết đến áp lực phải thương mại hóa nghiên cứu
Công nghệ sinh học Việt Nam là quá trình nghiên cứu và ứng dụng các nguyên lý sinh học, từ bảo tồn nguồn gen đến y học, nông nghiệp và môi trường, nhằm tạo ra sản phẩm, quy trình và dịch vụ có giá trị kinh tế, gắn với mục tiêu phát triển bền vững và xây dựng một nền kinh tế sinh học cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Ba năm sau Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước, hệ thống viện – trường – doanh nghiệp bắt đầu chịu một áp lực rất khác: không thể mãi dừng ở bài báo và đề tài. Nếu giai đoạn vừa qua chủ yếu là xây nền tảng pháp lý, nhân lực và phòng thí nghiệm, thì từ 2023 đến 2030 buộc phải là thời kỳ rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, biến tiềm lực khoa học thành ngành kinh tế biết tạo sản phẩm, doanh nghiệp và thị trường. Nói cách khác, câu chuyện không còn là có nghiên cứu hay không, mà là những nghiên cứu ấy có thương mại hóa được hay không.
Huế: nền tảng nghiên cứu mạnh nhưng mắc kẹt ở khâu kết nối
Huế là ví dụ điển hình cho nghịch lý “giàu nghiên cứu, nghèo sản phẩm”. Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế trong giai đoạn 2021-2025 chủ trì 4 đề tài cấp quốc gia, 9 đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo, 5 đề tài, dự án cấp thành phố, đồng thời công bố 194 bài báo, trong đó có 132 bài quốc tế, đăng ký một sáng chế, 2 giải pháp hữu ích, 2 nhãn hiệu và chuyển giao hơn 7 quy trình. Đó là con số đáng nể, nhưng số sản phẩm công nghệ sinh học đủ sức tạo thị trường lại chưa tương xứng. Báo cáo sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 36 thẳng thắn thừa nhận: ứng dụng và chuyển giao vào sản xuất còn chậm, nhiều mô hình dừng ở quy mô thử nghiệm, liên kết với doanh nghiệp lỏng lẻo, khả năng thương mại hóa thấp. Vấn đề không nằm ở thiếu chất xám, mà ở thiếu cơ chế kết nối các phòng thí nghiệm, nông dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư thành một hệ sinh thái thống nhất. Nếu không phá được “nút cổ chai” này, Huế sẽ tiếp tục là nơi sản sinh dữ liệu, nhưng lại để giá trị gia tăng chảy sang nơi khác.
TP.HCM: đưa công nghệ sinh học lên sàn giao dịch, buộc khoa học gặp doanh nghiệp
TP.HCM đang đi theo hướng khác: kéo công nghệ sinh học ra khỏi phòng thí nghiệm bằng các sự kiện kết nối và một hạ tầng giao dịch công nghệ tương đối hoàn chỉnh. Sáng 25/9, Sở KH&CN phối hợp với Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo tổ chức sự kiện trình diễn – kết nối công nghệ “Công nghệ sinh học trong kỉ nguyên số và biến đổi khí hậu: Giải pháp xanh và bền vững” tại Sàn Giao dịch Công nghệ của thành phố, nơi gần 40 công nghệ và thiết bị công nghệ sinh học được trình diễn trước doanh nghiệp, từ giải trình tự gen thế hệ mới, AI, vaccine thủy sản đến DNA môi trường và vi sinh cho nông nghiệp, môi trường. Theo ông Nguyễn Hữu Yên, công nghệ sinh học là một trụ cột trong định hướng khoa học công nghệ của thành phố trong bối cảnh chuyển đổi số và biến đổi khí hậu. Quan trọng hơn, Sàn Giao dịch hiện có hơn 25.000 công nghệ, thiết bị của hơn 2.500 nhà cung ứng sẵn sàng chuyển giao. Đó là cách tiếp cận mang tính thị trường: không coi chuyển giao công nghệ là khâu “hậu nghiên cứu” mà là sân chơi chính, nơi nhà khoa học buộc phải nghĩ về chuẩn hóa, kiểm định, mô hình sản xuất và năng lực đối tác ngay từ đầu.

Khi sinh học gặp AI, kinh tế tuần hoàn và bài toán sản phẩm cụ thể
Điểm thú vị là làn sóng công nghệ sinh học mới ở Việt Nam không dừng ở chuyện tạo chế phẩm hay giống cây trồng, mà đang gắn với AI, Omics, Biofoundry và kinh tế tuần hoàn. Các nhà khoa học tại TP.HCM nhấn mạnh AI có thể xử lý khối dữ liệu sinh học khổng lồ, trong khi Omics cung cấp bức tranh toàn cảnh về hệ thống sống; khi kết hợp với hệ thống Biofoundry tự động hóa, chu trình Design – Build – Test – Learn trong phát triển sản phẩm sinh học được rút ngắn đáng kể. Điều này mở đường cho những sản phẩm như vaccine bệnh gan thận mủ và xuất huyết trên cá tra, các chế phẩm vi sinh phục hồi đất hoặc xử lý chất thải đô thị, nông nghiệp. Ở Huế, công nghệ sinh học được gắn với nguồn gen bản địa như rau má, sen, thanh trà, ba kích tím, tràm gió, lan kim tuyến…; nhiều nguồn gen đã được giải trình tự và đưa lên cơ sở dữ liệu quốc tế, đặt nền cho truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý và phát triển sản phẩm mang bản sắc địa phương. Khi sinh học gặp bài toán cụ thể của nông nghiệp, thủy sản, môi trường và kinh tế tuần hoàn, khả năng phát triển sản phẩm sinh học có giá trị thương mại không còn là khẩu hiệu.
Từ cơ chế đến thị trường: nếu chỉ trình diễn mà thiếu doanh nghiệp tiên phong
Nghị quyết 36-NQ/TW đã tạo nền tảng pháp lý cho công nghệ sinh học, nhưng chính sách chỉ là điều kiện cần. Giai đoạn 2023-2030 được xác định là thời kỳ phải tạo được sản phẩm, doanh nghiệp và thị trường, với những mục tiêu rất cụ thể như hoàn thiện Đề án Trung tâm Công nghệ sinh học cấp quốc gia khu vực miền Trung, hoàn thiện Đề án Khu Công nghệ cao Huế và đưa ít nhất 10-20 sản phẩm công nghệ sinh học có khả năng cạnh tranh ra thị trường. Câu hỏi là: ai sẽ chịu rủi ro đầu tiên? Các sự kiện trình diễn – kết nối ở TP.HCM cho thấy chính quyền đã chủ động dựng sân khấu, nhưng nếu không có doanh nghiệp dám nhận chuyển giao, dám bỏ công sức vào chuẩn hóa, kiểm định, xây dây chuyền thì những công nghệ ấy vẫn sẽ “đẹp trên poster”. Một công nghệ từ kết quả nghiên cứu đến sản xuất phải đi qua đủ bước chuẩn hóa, chứng nhận, xác định quy mô và mô hình sản xuất, đồng thời cần đơn vị có năng lực tiếp nhận. Thương mại hóa nghiên cứu không thể giao trọn cho nhà khoa học; đó là cuộc chơi của doanh nhân biết đọc dữ liệu, hiểu thị trường và chấp nhận đi trước trong một ngành còn nhiều ẩn số.






