Tầm nhìn 100 năm cần một thành phố thống nhất
Quy hoạch tổng thể TP.HCM là khung tổ chức không gian, hạ tầng và các động lực kinh tế nhằm phát triển thành phố thành một chỉnh thể đa cực, đa trung tâm trong tầm nhìn dài hạn. Sáng 29/10, UBND TP.HCM trình HĐND thành phố quy hoạch thời kỳ 2025-2050, hướng tới tầm nhìn 100 năm. Điểm đáng chú ý không nằm ở tham vọng kéo dài đến thế kỷ sau, mà ở yêu cầu nối những địa bàn rộng lớn thành một hệ thống vận hành chung, thay vì để từng khu vực phát triển riêng lẻ. Sau sắp xếp địa giới, thành phố có thêm không gian nhưng cũng phải xử lý bài toán kết nối, quản trị, môi trường và chất lượng sống. Vì vậy, quy hoạch TP.HCM chỉ có ý nghĩa nếu các mục tiêu dài hạn được chuyển thành thứ tự ưu tiên, dự án và hạ tầng cụ thể.
Lộ trình đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa thành phố thành đô thị thông minh, hiện đại hàng đầu Đông Nam Á; đến năm 2045 vươn lên thành trung tâm kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của châu Á. Từ năm 2075 trở đi, đích đến là một đô thị toàn cầu. Đây là các mốc tham vọng, nhưng chúng cũng nhấn mạnh rằng quy hoạch không thể dừng ở bản đồ phân khu. Thành phố phải chứng minh được cách hạ tầng, việc làm và nhà ở cùng phát triển, để người dân cảm nhận lợi ích từ cấu trúc mới trong đời sống hằng ngày.

Năm cực động lực phải tạo thành một mạng lưới
Mô hình đề xuất gồm 5 cực động lực, 5 trung tâm vệ tinh, 5 hệ liên kết chiến lược và 10 vùng quản lý phát triển. Lõi trung tâm tập trung dịch vụ tài chính quốc tế và đổi mới sáng tạo; phía Bắc hướng đến công nghiệp, công nghệ cao và logistics; phía Nam ưu tiên cảng biển, thương mại tự do và năng lượng; phía Tây phát triển đô thị, giáo dục và y tế. Côn Đảo, Long Hải - Hồ Tràm, Hóc Môn - Củ Chi, Bàu Bàng và Tân Uyên - Bắc Tân Uyên được xác định là các trung tâm vệ tinh. Phân vai như vậy hợp lý hơn việc dồn mọi chức năng vào lõi đô thị, nhưng tên gọi không tự tạo ra liên kết. Nếu thiếu giao thông thuận tiện và dịch vụ thiết yếu, vệ tinh sẽ chỉ là những điểm trên sơ đồ.
Sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, hồ Dầu Tiếng và rừng Cần Giờ được xem là nền xanh - xanh dương, vừa góp phần trữ, điều tiết nước, vừa có thể tạo không gian công cộng ven sông, ven biển. Đây không phải phần trang trí cho một siêu đô thị TP.HCM đang mở rộng: hệ sinh thái phải trở thành hạ tầng nâng đỡ phát triển và bảo vệ chất lượng sống. Quy hoạch cũng định hướng kiểm soát đô thị hóa ở vùng thấp trũng, nền đất yếu, kết hợp giải pháp chống ngập theo lưu vực. Thành phố cần giữ được những hành lang xanh này khi phân bổ đất xây dựng, nếu không, tăng trưởng đa cực có nguy cơ làm rộng thêm các vấn đề mà nó được kỳ vọng giải quyết.

Giao thông công cộng quyết định các cực có kết nối hay không
Cốt lõi của quy hoạch đa cực không chỉ là xác định nơi nào tập trung công nghiệp hay dịch vụ, mà là bảo đảm người dân và hàng hóa di chuyển được giữa các cực. Thành phố đặt mục tiêu để vận tải hành khách công cộng đáp ứng 55%-65% nhu cầu; đến năm 2050 dự kiến hoàn thành 18 tuyến đường sắt đô thị dài 961 km và khoảng 450 km tàu điện mặt đất. Quy mô này cho thấy giao thông công cộng được xem là khung xương của đô thị tương lai, chứ không phải phần bổ sung sau khi khu dân cư đã hình thành. Nhưng con số chỉ có giá trị khi tiến độ, kết nối giữa các tuyến và khả năng tiếp cận nhà ga được bảo đảm.
Định hướng đô thị nén theo mô hình TOD tại các đầu mối giao thông công cộng có thể đưa nhà ở, việc làm, thương mại và dịch vụ đến gần nhau hơn. Quy hoạch đồng thời tính đến tổ chức không gian mặt đất, ngầm và trên cao. Với người dân, điều này có thể giảm phụ thuộc vào xe cá nhân và mở thêm lựa chọn nhà ở gần nơi làm việc. Thành phố cũng nêu ưu tiên nhà ở xã hội, nhà cho thuê và nhà công nhân gắn với TOD và phân bố việc làm. Đó là hướng đi đúng: nếu chỉ xây nhà ga mà không tính tới giá nhà, dịch vụ và lối đi bộ, lợi ích của giao thông công cộng sẽ khó đến được với số đông.

Thước đo nằm ở khả năng biến quy hoạch thành đời sống
Quy hoạch dự kiến đất xây dựng đạt 280.000-290.000 ha vào năm 2030 và tăng lên 365.000-390.000 ha vào năm 2050. Mức mở rộng này càng khiến việc chọn đúng đầu mối giao thông, giới hạn đô thị hóa tại vùng rủi ro và bảo vệ hành lang xanh trở nên cấp thiết. Phát triển đô thị nén quanh nhà ga, mở rộng có chọn lọc ở nơi còn dư địa và tái thiết khu vực hiện hữu là cách tiếp cận thuyết phục hơn việc trải đô thị đồng đều. Tuy nhiên, hiệu quả sẽ phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa quy hoạch đất, đầu tư giao thông và phân bố việc làm; nếu các quyết định này đi lệch nhịp, thành phố có thể tạo ra những khu mới nhưng vẫn duy trì áp lực đi lại lên lõi cũ.
Quy hoạch 100 năm nên được đánh giá bằng những thay đổi người dân có thể nhận ra: đi lại thuận tiện hơn, nhà ở phù hợp gần việc làm, ít chịu ảnh hưởng ngập và có thêm không gian công cộng. Các mục tiêu đường sắt, TOD và nhà ở gắn với giao thông đã đưa ra hướng đi; thách thức tiếp theo là chuyển chúng thành dự án đồng bộ và có tiến độ rõ ràng. Năm cực động lực cùng các trung tâm vệ tinh có thể giúp TP.HCM phân bố cơ hội tốt hơn, nhưng chỉ khi được nối bằng mạng lưới giao thông đủ tin cậy và phát triển trong giới hạn môi trường. Đó mới là cách biến một bản quy hoạch tham vọng thành một siêu đô thị thực sự đáng sống.






