Giảm lãi trên khoản vay hiện hữu mới là điểm đáng chú ý
Giảm lãi suất trên dư nợ hiện hữu là việc ngân hàng điều chỉnh giảm mức lãi áp dụng cho khoản vay khách hàng đang trả, thay vì chỉ dành ưu đãi cho các khoản giải ngân mới. Đây là cách đưa chính sách hạ lãi đến gần hơn với người đang gánh chi phí vốn.
Tại buổi làm việc với 46 ngân hàng thương mại sáng 19/10/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn yêu cầu xem xét giảm lãi cho cả dư nợ hiện hữu lẫn khoản vay mới, nhưng phải chọn đúng đối tượng, không áp dụng cào bằng. Đây là hướng đi hợp lý: ưu đãi chỉ dành cho khoản vay mới bỏ lại phía sau những doanh nghiệp và khách hàng đã vay để sản xuất, kinh doanh. Theo yêu cầu được nêu, lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ sáu tháng trở lên cần giảm tối thiểu 0,5%/năm, còn lãi suất cho vay tập trung giảm 1,5–2%/năm ở lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và nhóm ưu tiên.
Tác động của chính sách vì thế rộng hơn các gói chỉ áp dụng cho khoản giải ngân mới, nhưng phạm vi hưởng lợi vẫn có chọn lọc. Với người vay, câu hỏi quan trọng không chỉ là ngân hàng có công bố giảm lãi suất hay không, mà là khoản vay đang trả có thuộc nhóm được điều chỉnh hay không.

Hạ lãi suất phải đi cùng giảm chi phí đầu vào
Chỉ đạo giảm lãi suất không thể thay thế bài toán nguồn vốn. Khi huy động tăng chậm hơn tín dụng, ngân hàng vẫn chịu áp lực cân đối vốn; nếu chi phí đầu vào cao, mức giảm lãi cho vay khó duy trì lâu dài. Tính đến ngày 19/10, tiền gửi tăng 11,22% và tín dụng tăng 11,44% so với cuối năm 2025. Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư tăng càng làm bài toán này thêm căng.
Muốn giảm lãi suất vay có cơ sở bền vững, các tổ chức tín dụng phải đồng thời tiết giảm chi phí hoạt động, giảm chi phí huy động vốn và chia sẻ lợi nhuận. Đây không phải chi tiết phụ: nếu ngân hàng chỉ chuyển ưu đãi sang một nhóm nhỏ mà không cải thiện chi phí, mức giảm dễ bị giới hạn hoặc khó kéo dài. Yêu cầu giảm ít nhất 0,5%/năm lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ sáu tháng trở lên nhằm tạo thêm dư địa cho vay rẻ hơn, nhưng ngân hàng vẫn phải giữ khả năng huy động vốn.
Vì vậy, lãi suất thực chất không nên được đánh giá qua thông điệp ưu đãi đơn lẻ. Cần nhìn vào việc ngân hàng có giảm lãi cho khoản vay đang tồn tại, có tiết kiệm chi phí và có chấp nhận thu hẹp một phần biên lợi nhuận hay không.
Lợi ích có chọn lọc, không phải cam kết giảm đồng loạt
Chủ trương không cào bằng giúp hướng nguồn lực đến sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, nhưng cũng có nghĩa không phải mọi khách hàng đều được hưởng cùng mức giảm. Các gói ưu đãi đã công bố tại một số ngân hàng tương đương khoảng 1,5–6% dư nợ cho vay, cho thấy phạm vi hỗ trợ vẫn còn giới hạn. Do đó, không nên hiểu chỉ đạo chung là lời hứa tự động hạ lãi cho toàn bộ người vay.
Một điểm sáng là đã có ngân hàng mở rộng ưu đãi tới dư nợ hiện hữu. Agribank được ghi nhận giảm lãi suất cho vay lên tới 2,5%/năm đối với nhóm dư nợ này. Đây là ví dụ cho thấy chính sách có thể chuyển thành lợi ích trực tiếp, nhưng không thể suy ra mức giảm đó áp dụng cho mọi ngân hàng hay mọi hợp đồng. Ngay cả khi lãi suất niêm yết giảm, tác động thực tế còn tùy đối tượng được chọn và phạm vi điều chỉnh.
Người vay nên chủ động hỏi ngân hàng khoản vay của mình có thuộc diện giảm lãi hay không, điều kiện áp dụng là gì và mức lãi suất mới được tính ra sao. Cần xác nhận cụ thể phần dư nợ được điều chỉnh và thời điểm bắt đầu áp dụng, thay vì chỉ dựa vào thông tin về chương trình dành cho khách hàng mới.
Kết quả phải được đo bằng khoản trả thực tế
Mở rộng giảm lãi tới dư nợ hiện hữu là bước cần thiết để chính sách hạ chi phí vay vốn chạm đến người đang trả nợ, thay vì chỉ tạo sức hút cho khoản vay mới. Nhưng chỉ đạo sẽ mất ý nghĩa nếu ngân hàng không có dư địa chi phí để thực hiện hoặc người vay không thuộc nhóm được hỗ trợ.
Thước đo đúng không phải số lượng thông báo ưu đãi, mà là mức lãi mới thực sự áp dụng cho khoản vay hiện tại và khả năng giảm gánh nặng trả nợ của khách hàng. Ngân hàng cần tiết giảm chi phí vận hành, hạ chi phí huy động và chia sẻ lợi nhuận; người vay cần xác minh điều kiện với nơi cho vay. Chỉ khi cả hai phía cùng thực hiện, giảm lãi suất mới trở thành lãi suất thực chất.






