Di sản khổng lồ của vua vọng cổ và câu hỏi khó tránh
NSND Viễn Châu vọng cổ là cách gọi một soạn giả, danh cầm được xem như ông vua vọng cổ, người đã góp phần quyết định vào diện mạo di sản cải lương Việt qua hàng nghìn bản vọng cổ, nhiều vở tuồng và cả một trường phái thẩm mỹ, nhưng đến nay đời sống và sự nghiệp của ông vẫn chưa có công trình nghiên cứu xứng tầm, tạo ra một khoảng trống khó lý giải trong lịch sử sân khấu Nam bộ. Nghệ sĩ nhân dân Viễn Châu không chỉ là danh cầm Bảy Bá, ông là người đã đặt nền cho tân cổ giao duyên, vọng cổ hài, và cách xây dựng hình ảnh Nam bộ giàu chất trữ tình trong cải lương. Vậy mà chúng ta mới dừng lại ở mức ghi nhận, tưởng niệm, chưa bước sang nấc nghiên cứu hệ thống, đào sâu và số hóa kho tư liệu về ông.
Vọng cổ đo ni đóng giày và một thế hệ được “thả dây diều”
Điều làm nên tầm vóc đặc biệt của nghệ sĩ nhân dân Viễn Châu không chỉ là số lượng tác phẩm, mà là cách ông đo ni đóng giày cho từng giọng ca cụ thể. Nhiều bản vọng cổ của ông gắn liền với tên tuổi nghệ sĩ: Út Trà Ôn với Tình anh bán chiếu, Lệ Thủy với Cô gái bán sầu riêng, Chí Tâm với Ông lão chèo đò, Hồng Nga với Kiếp cầm ca… mỗi bài hát là một đường bay riêng của một sự nghiệp. Viễn Châu hiểu rất rõ chất giọng và khí chất từng người, viết nhịp, chữ, dấu để làm bật ưu điểm giọng ca, từ dấu sắc, hỏi, ngã, huyền cho đến cách chia câu. Giọng nào mới chớm nổi là ông viết liên tục nhiều bài để đẩy lên, biến các giọng trẻ thành ngôi sao đúng nghĩa. Chính vì thế, nhiều nghệ sĩ nhìn ông như người thả dây cho cánh diều tài năng bay lên, một người thầy, một người cha trong nghề.
Người thầy lớn của cải lương và khoảng trống nghiên cứu vọng cổ
Trong thời điểm chưa có trường lớp sân khấu chuyên nghiệp, nghệ sĩ trẻ học nghề bằng cách bám vào các “ông thầy đờn”; và Viễn Châu được xem là danh sư trong giới, vừa nắm chắc nhạc, vừa sáng tác, lại thấu hiểu tác phẩm của mình hơn ai hết. Ông uốn nắn từng hơi, từng chữ, kiên nhẫn dạy tới khi nghệ sĩ ca đạt mới thôi. Nhiều người sau này trở thành NSND, NSƯT vẫn gọi ông là thầy, là ân nhân, nhìn ông như nền tảng đạo đức lẫn nghề nghiệp của đời mình. Thế nhưng, như NSƯT Hoa Hạ thừa nhận, một mình Viễn Châu đã tạo ra một trường phái lớn mà đến nay chúng ta chỉ mới ghi nhận, hoàn toàn chưa có nghiên cứu vọng cổ bài bản về tân cổ giao duyên, vọng cổ hài hay hình ảnh Nam bộ trong tác phẩm của ông. Việc bàn luận rời rạc, vài buổi tọa đàm, hội thảo không thể thay thế cho một chương trình nghiên cứu chuyên trách với kinh phí và nhân lực đủ mạnh.
Sự hối hả của những người còn sống và nguy cơ tam sao thất bổn
Nỗi lo của giới sân khấu hôm nay không phải là chuyện xa xôi mà là nguy cơ mất mát ngay trước mắt. Đạo diễn NSND Trần Ngọc Giàu nói rõ tâm trạng “hối hả” khi những người cùng thời với Viễn Châu lần lượt ra đi hoặc đã rất già, còn thế hệ am hiểu nhất thì cũng đã U70, U60. Càng lùi xa, tư liệu càng mờ nhạt, khó tìm để nghiên cứu. Kịch bản của ông phần lớn viết tay, chuyền tay dựng, rồi rách, thất lạc; gia đình cũng không giữ đủ. Đã xuất hiện nạn tam sao thất bổn: bản dựng khác bản gốc, đạo diễn, nghệ sĩ chỉnh sửa theo hoàn cảnh khiến việc xác định nguyên tác càng khó. Vì vậy, Trần Ngọc Giàu đề xuất Nhà nước cấp kinh phí để lập kho tàng kịch bản như thư viện số hóa, không chỉ cho riêng Viễn Châu mà cho cả các soạn giả khác, giữ lại những vở hay, vở kinh điển của di sản cải lương Việt. Đây không phải đề xuất xa xỉ mà là yêu cầu tối thiểu nếu chúng ta còn coi cải lương là tài sản chung.
Cần một ban nghiên cứu, không chỉ những bài vọng cổ quen thuộc
Một nghịch lý khó chấp nhận là Nhà nước phong tặng danh hiệu NSND cho Viễn Châu chủ yếu với tư cách “danh cầm Bảy Bá”, chứ không phải trên tư cách soạn giả. Điều này khiến nhiều người trong giới vẫn mang cảm giác áy náy. Theo Trần Ngọc Giàu, cần xem xét trao thêm Giải thưởng Nhà nước cho ông, đồng thời thành lập hẳn một ban nghiên cứu về con người và tác phẩm, lưu lại cho hậu thế. Bởi di sản của ông không dừng ở những bản vọng cổ đo ni đóng giày cho nghệ sĩ, mà còn là nhân cách lớn, sự nghiêm cẩn với bản quyền, tiền bạc và thái độ sống để bác bỏ cái nhìn “xướng ca vô loài” bằng chính đời sống văn hóa của mình. Nếu không có một công trình nghiên cứu xứng tầm, chúng ta sẽ tiếp tục ca những bài vọng cổ quen thuộc mà hiểu mơ hồ về người đã định hình cả một giai đoạn của di sản cải lương Việt. Đã đến lúc phải chuyển từ tri ân cảm tính sang hành động học thuật.






