Độ tin cậy bắt đầu từ chuẩn bị trước mùa khô
Độ tin cậy cung cấp điện là khả năng hệ thống đáp ứng nhu cầu liên tục nhờ nguồn phát sẵn sàng, nhiên liệu đủ dùng và lưới điện đưa được điện đến nơi cần. Bởi vậy, kế hoạch bảo đảm điện không thể chỉ trông vào công suất lắp đặt: nước trong hồ, than tại nhà máy và tiến độ công trình truyền tải đều phải được tính cùng nhau. Từ giữa tháng 10/2026, Thủy điện Bản Vẽ bắt đầu tích nước để dành nguồn cho phát điện, sinh hoạt và sản xuất ở hạ du trong mùa cạn. Việc chuẩn bị sớm phản ánh rủi ro cụ thể: El Niño có thể làm gia tăng nguy cơ thiếu nước, trong khi nhu cầu điện vẫn cần được đáp ứng. Đây là cách ứng phó hợp lý hơn việc chờ thiếu hụt mới xoay xở, miễn là tích nước luôn đi cùng yêu cầu an toàn hồ đập và điều tiết cho hạ du.
Bản Vẽ cần tích thêm khoảng 110 triệu m³ nước để đưa hồ từ cao trình khoảng 197,5 m lên mực nước dâng bình thường 200 m. Dù nhà máy đã hoàn thành kế hoạch sản lượng năm 2026 từ ngày 28/9, kết quả tốt trong một năm thủy văn thuận lợi không bảo đảm mùa khô kế tiếp cũng thuận lợi. Vì hồ còn phải cấp nước và giảm lũ, quyết định vận hành cần dựa trên diễn biến khí tượng thủy văn và quy trình liên hồ, không chạy theo mục tiêu phát điện đơn lẻ. Cách cân bằng này có ý nghĩa thiết thực với người dân và cơ sở sản xuất ở hạ du, những đối tượng cần cả điện lẫn nguồn nước.

Than và khả năng sẵn sàng của tổ máy phải đi cùng nhau
Thủy điện cần nước dự trữ; nhiệt điện cần nhiên liệu được giao đúng lúc và tổ máy đủ khả năng vận hành. EVNGENCO1 dự kiến cần khoảng 4,4 triệu tấn than trong quý IV/2026 và 14,75 triệu tấn trong năm 2027. Tổng công ty đã đẩy nhanh đàm phán hợp đồng với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc, đồng thời lên kế hoạch nhập khẩu, dự trữ nhiên liệu. Quy mô này cho thấy chuẩn bị nhiên liệu không thể dừng ở việc ký hợp đồng: vận chuyển, tồn kho và kiểm tra thực tế tại nhà máy cũng quyết định than có sẵn khi hệ thống cần huy động hay không.
Theo kế hoạch được nêu, lãnh đạo EVN yêu cầu bám sát tiến độ giao than, kiểm tra lượng nhiên liệu tại các nhà máy và chủ động tăng tồn kho từ tháng 3/2027 để chuẩn bị cho cao điểm mùa khô. Đây là mốc cần được xem như nhiệm vụ vận hành, không phải việc hậu cần bên lề. Nguồn than dồi dào cũng chưa đủ nếu tổ máy hỏng hoặc không sẵn sàng đáp ứng lệnh huy động. Muốn nguồn cung điện ít bị động, cần quản lý đồng thời tồn kho, lịch giao nhận và độ khả dụng của thiết bị; thiếu một mắt xích, công suất dự kiến có thể không chuyển thành sản lượng thực tế.

Lưới điện phải theo kịp nguồn phát và nhu cầu
Có điện ở nhà máy chưa đồng nghĩa điện đến được hộ dùng nếu năng lực truyền tải hoặc phân phối chưa sẵn sàng. Ngày 29/10 tại Đà Nẵng, EVNNPT và EVNCPC ký thỏa thuận phối hợp tiến độ các dự án đồng bộ giữa lưới điện truyền tải và phân phối ở miền Trung - Tây Nguyên. Danh mục năm 2026 gồm 61 ngăn lộ 110 kV: 24 ngăn đã đóng điện trước năm 2026, 8 ngăn dự kiến hoàn thành trong năm 2026, 17 ngăn vào năm 2028 và 12 ngăn sau năm 2028. Việc thống nhất tiến độ là cần thiết để tránh công trình cấp điện và công trình tiếp nhận điện lệch nhịp, khiến vốn đầu tư chưa phát huy hết hiệu quả.
EVNNPT chịu trách nhiệm rà soát danh mục, tiến độ các dự án lưới điện truyền tải và phối hợp thủ tục đấu nối; EVNCPC thông báo nhu cầu, kế hoạch đầu tư phân phối, đồng thời hỗ trợ mặt bằng và bố trí cắt điện thi công khi cần. Hai bên sẽ rà soát thường xuyên, cập nhật tình hình hằng quý và xử lý vướng mắc phát sinh. Cơ chế này đáng chú ý vì nhu cầu phụ tải, lịch xây dựng và điều kiện thi công luôn có thể thay đổi. Nếu phối hợp thực chất, người dân và doanh nghiệp trong khu vực có thêm cơ sở để kỳ vọng nguồn điện được truyền tải, phân phối an toàn, ổn định hơn.

Đồng bộ mới biến kế hoạch thành điện phục vụ khu vực
Tích nước, chuẩn bị than và đầu tư lưới điện không phải ba kế hoạch tách rời. Chúng cùng trả lời một câu hỏi: khi nhu cầu tăng hoặc nguồn nước giảm, hệ thống có đủ điện và đưa điện đến phụ tải đúng lúc hay không? EVNGENCO1 đang chuẩn bị nguồn phát cho năm 2027, còn EVNNPT và EVNCPC thống nhất tiến độ hạ tầng truyền tải - phân phối tại miền Trung - Tây Nguyên. Sự đồng bộ ấy hướng đến đáp ứng nhu cầu khu vực, nâng hiệu quả khai thác công trình và duy trì vận hành an toàn.
Tuy nhiên, thỏa thuận và kế hoạch chỉ có giá trị khi chuyển thành hồ chứa được vận hành đúng quy trình, nhiên liệu được giao và dự trữ đủ, tổ máy sẵn sàng, còn các ngăn lộ hoàn thành đúng mốc. Vì thế, thước đo đáng tin cậy không phải số lượng cam kết, mà là tiến độ được theo dõi và điều chỉnh kịp thời trước rủi ro. Kết hợp quản trị nguồn phát với đầu tư lưới điện là hướng đi đúng: nó giúp bảo vệ độ tin cậy cung cấp điện tốt hơn so với chỉ bổ sung công suất mà bỏ quên khả năng truyền tải.







