Đưa tri thức về con người vào trung tâm phát triển
Nguồn lực nhân văn là tri thức, kinh nghiệm, bản sắc văn hóa và sức sáng tạo của con người, gia đình và cộng đồng được chuyển hóa thành động lực phát triển chung. Đây không phải nguồn lực trừu tượng: giá trị của nó thể hiện ở việc người dân có cơ hội tham gia, gìn giữ bản sắc và thụ hưởng thành quả phát triển.
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam khai mạc không gian trưng bày thành tựu nghiên cứu về con người và cộng đồng, do Viện Dân tộc học và Tôn giáo học cùng Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới chủ trì, phối hợp với Văn phòng Viện Hàn lâm tổ chức. Sự kiện giới thiệu các công trình, ấn phẩm và sản phẩm khoa học, đồng thời nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của hai Viện. Chủ đề “Phát huy nguồn lực nhân văn - Phát triển bao trùm, bền vững” nêu một lựa chọn có ý nghĩa: đánh giá phát triển không chỉ bằng kết quả kinh tế, mà còn bằng việc các nhóm xã hội có được tham gia và hưởng lợi hay không.

Nghiên cứu xã hội phải bắt đầu từ cộng đồng
Điểm đáng chú ý của trưng bày là cách đặt con người và cộng đồng đồng thời ở vị trí đối tượng nghiên cứu lẫn chủ thể phát triển. Cách nhìn ấy giúp nghiên cứu xã hội tránh xa việc chỉ mô tả phong tục hay vấn đề xã hội: tri thức cần làm rõ điều gì đang diễn ra, tiếng nói nào cần được lắng nghe và chính sách nào có thể đáp ứng nhu cầu thực tế.
Các lĩnh vực được giới thiệu bổ trợ cho nhau. Dân tộc học và tôn giáo học mở rộng hiểu biết về sự đa dạng cộng đồng, hệ giá trị và bản sắc cần được bảo tồn; nghiên cứu con người, gia đình và giới tập trung vào điều kiện phát triển cá nhân, đời sống gia đình và bình đẳng giới. Khi những góc nhìn này cùng hiện diện, phát triển bao trùm có thể được hiểu cụ thể hơn: tôn trọng khác biệt, tạo cơ hội công bằng và không để một nhóm người bị đứng ngoài. Đó cũng là lý do khoa học xã hội cần gắn kết lý luận với thực tiễn, thay vì dừng lại ở các kết luận trong phòng nghiên cứu.

Di sản chỉ sống khi cộng đồng cùng gìn giữ
Những dự án được giới thiệu cho thấy bảo tồn văn hóa có thể gắn với năng lực và sinh kế cộng đồng, thay vì chỉ lưu giữ hiện vật. Với người Brâu và Rơ-măm, các nhà nghiên cứu dựa vào ký ức người cao tuổi và tri thức nghệ nhân để tái dựng mô hình nhà rông rông puếch. Dự án tiếp tục tham vấn người dân, phục dựng kiến trúc dưới dạng mô hình số 3D và tổ chức hai lớp truyền dạy cồng chiêng, dân ca, dân vũ cho 40 học sinh.
Ở Công viên địa chất Non nước Cao Bằng, nhóm nghiên cứu phối hợp với người dân truyền dạy nghề, tập huấn kỹ năng du lịch và phát triển sản phẩm mới từ giấy bản truyền thống. Cách làm này đáng được chú ý vì tri thức địa phương không bị đóng khung trong quá khứ: nó có thể tiếp tục tạo giá trị trong đời sống hiện tại, miễn là cộng đồng tham gia quyết định cách gìn giữ và sử dụng. Đây là một con đường thiết thực để phát triển bền vững đi cùng bảo tồn bản sắc.
Từ bằng chứng nghiên cứu đến chính sách công bằng
Nghiên cứu xã hội còn có giá trị khi cung cấp căn cứ cho chính sách và cải thiện đời sống. Các nội dung trưng bày về tín ngưỡng, tôn giáo cho thấy kết quả khoa học có thể hỗ trợ tư vấn chính sách, đối thoại và xây dựng quan hệ hài hòa giữa các cộng đồng. Trong khi đó, nghiên cứu về trang phục sinh hoạt của người Chứt xuất phát từ nhu cầu địa phương và sự trao đổi với chính cộng đồng; hơn 600 bộ trang phục đã được trao cho các đội, câu lạc bộ văn nghệ truyền thống. Những ví dụ ấy khiến thông điệp “con người là trung tâm” có hình hài cụ thể hơn.
Tuy nhiên, một cuộc trưng bày chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lâu dài phụ thuộc vào việc tri thức có tiếp tục đến được với người dân, người làm chính sách và các thế hệ kế tiếp hay không. Chủ tịch Viện Hàn lâm kỳ vọng hai Viện đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành, gắn lý luận với thực tiễn, nâng cao năng lực phản biện, tham mưu chiến lược và dự báo các vấn đề xã hội mới nổi. Nếu giữ được hướng đi ấy, nguồn lực nhân văn sẽ không chỉ là chủ đề trưng bày, mà trở thành nền tảng cho phát triển bao trùm và bền vững.







