Quy mô lớn, dữ liệu sức khỏe lần đầu rõ nét hơn
Khám sức khỏe toàn dân là chương trình đưa dịch vụ kiểm tra, đánh giá tình trạng sức khỏe đến nhiều nhóm dân cư, đồng thời tạo hồ sơ để hỗ trợ theo dõi và quản lý sức khỏe về sau. Sáng 30-10, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM Tăng Chí Thượng báo cáo rằng tính đến 17 giờ ngày 29-10, thành phố đã khám cho 6.833.898 người, tương đương 53,5% dân số; hơn 6,1 triệu người đã có hồ sơ sức khỏe điện tử. Đây là bước tiến đáng kể về độ bao phủ, nhưng con số lượt khám chỉ có ý nghĩa khi kết quả được chuyển thành tư vấn, theo dõi và chăm sóc tiếp nối. Thành phố lần đầu có dữ liệu thực tế trên diện rộng để nhận diện vấn đề sức khỏe thay vì chủ yếu dựa vào các cuộc điều tra quy mô quốc gia.
Tiến độ tăng nhanh trong đợt cao điểm: thành phố khám thêm hơn 180.000 người, bình quân hơn 60.000 người mỗi ngày. Học sinh là nhóm đạt tỷ lệ cao nhất, với hơn 2,3 triệu trong tổng số 2,6 triệu em, gần 90%; trong khi sinh viên, học viên đạt 37,25% và người lao động chính thức đạt 34,4%. Khoảng cách này cho thấy chương trình chưa thể chỉ dựa vào các đợt cao điểm; những nhóm khó tập hợp như sinh viên và người lao động cần được tổ chức tiếp cận phù hợp hơn.

355.290 người thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao
Điểm đáng chú ý nhất không phải là số lượng người được khám, mà là những nguy cơ trước đây có thể chưa được phát hiện. Dựa trên hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới về phân tầng nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong 10 năm tới, ngành y tế đã đánh giá gần 2 triệu hồ sơ đủ điều kiện và xác định 355.290 người thuộc nhóm nguy cơ cao và rất cao. Con số này biến chương trình thành cơ hội can thiệp sớm, thay vì dừng ở một lần kiểm tra sức khỏe.
Các phát hiện khác càng cho thấy nhu cầu theo dõi sau khám: tăng huyết áp được ghi nhận ở 51,58% người từ 60 tuổi trở lên và 18,3% người trong độ tuổi 18-60; phần lớn trường hợp ở nhóm tuổi sau chưa từng biết mình mắc bệnh. Với học sinh, 35% có tật khúc xạ và 24,9% bị sâu răng. Vì vậy, cảnh báo nguy cơ tim mạch chỉ có giá trị khi người dân được tư vấn, xác nhận tình trạng và hướng dẫn điều trị hoặc theo dõi phù hợp. Nếu không có bước tiếp nối, dữ liệu tốt vẫn chưa bảo đảm sức khỏe được cải thiện.

Đo đúng độ bao phủ khám miễn phí
Việc bổ sung chỉ số tỷ lệ khám sức khỏe miễn phí là điều chỉnh cần thiết, không phải thay đổi hình thức báo cáo cho có. Trước đó, tỷ lệ cộng dồn được tính trên tổng dân số và gồm cả người khám qua cơ quan, doanh nghiệp hoặc hình thức khác; chỉ số ấy chưa cho thấy rõ nhóm thuộc diện ngân sách nhà nước chi trả đã được phục vụ đến đâu. Sở Y tế nay theo dõi riêng tỷ lệ của nhóm này, đồng thời duy trì chỉ số bao phủ chung để đánh giá tiến độ toàn diện hơn.
Sự khác biệt giữa hai cách tính có thể làm thay đổi cách nhìn về kết quả địa phương. Bình Chánh và Hưng Long đạt tỷ lệ khám miễn phí 95%, Hòa Hiệp đạt 93%; trong khi tỷ lệ khám cộng dồn trên tổng dân số tại các địa phương này lần lượt thấp hơn đáng kể. Chỉ số riêng giúp phát hiện nơi còn người đủ điều kiện chưa tiếp cận được chương trình, từ đó chính quyền có căn cứ rà soát và vận động cụ thể. Đây là cách đo công bằng hơn: không chỉ hỏi thành phố đã khám cho bao nhiêu người, mà còn hỏi nhóm được ngân sách hỗ trợ có thực sự được tiếp cận hay chưa.

Thử thách tiếp theo là theo dõi và hoàn thành đúng hạn
Khối lượng phía trước vẫn lớn: thành phố còn phải khám cho hơn 5,9 triệu người trong 63 ngày cuối năm, tức cần bình quân khoảng 94.000 lượt mỗi ngày để đạt mục tiêu. Người lao động chiếm gần một nửa số người còn lại, bên cạnh khoảng 2,4 triệu người tại cộng đồng và hàng trăm nghìn học sinh, sinh viên. Ngành y tế khó hoàn thành nhiệm vụ nếu thiếu phối hợp của doanh nghiệp, trường học và chính quyền địa phương.
Mục tiêu khám dứt điểm cho khối trường học trong tháng 11 là mốc gần, nhưng điều quan trọng hơn là chuẩn hóa kết quả và hoàn thiện hồ sơ điện tử để phục vụ quản lý sau khám. Với người dân, khám sức khỏe miễn phí chỉ thật sự có ích khi kết quả không bị bỏ quên: người thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao cần biết bước tiếp theo và được theo dõi. TP.HCM đã tạo được quy mô và bắt đầu nhìn rõ các nguy cơ; thành công cuối cùng sẽ phụ thuộc vào khả năng biến phát hiện thành chăm sóc liên tục.






