Mục tiêu 30% là bước ngoặt về cách đặt bài toán nghiên cứu
Nghiên cứu gắn với doanh nghiệp là hoạt động trong đó nhu cầu sản xuất, kinh doanh được xác định từ đầu, doanh nghiệp cùng viện, trường nghiên cứu và chia sẻ nguồn lực để phát triển giải pháp có khả năng ứng dụng. Từ năm 2027, ít nhất 30% nhiệm vụ nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu doanh nghiệp, hướng tới nâng tỷ lệ này lên 50%. Đây không nên được hiểu là một chỉ tiêu hình thức, mà là yêu cầu đổi cách chọn đề tài: bắt đầu từ vấn đề cần giải quyết, không phải từ năng lực sẵn có rồi mới đi tìm nơi áp dụng.
Tại hội nghị toàn quốc ngày 23/10/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì phiên làm việc trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của lãnh đạo 10 bộ, cơ quan cùng đại diện viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Quy mô tham dự cho thấy liên kết viện trường đã được đặt thành bài toán phối hợp cấp hệ thống. Nhưng điều quan trọng hơn là mục tiêu mới buộc các bên chịu trách nhiệm với đầu ra, thay vì xem việc gặp gỡ và ký kết là kết quả.
Khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường đòi hỏi đổi cách làm
Tỷ lệ hiện nay cho thấy vì sao cần thay đổi. Trong giai đoạn 2021–2025, doanh nghiệp tham gia khoảng 12% nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, còn ở địa phương là khoảng 11%. Cũng trong giai đoạn này, 42 chương trình với khoảng 4.800 nhiệm vụ nghiên cứu sử dụng 17.000 tỷ đồng, nhưng chỉ ít kết quả trở thành sản phẩm trên thị trường. Điểm nghẽn không chỉ là thiếu kinh phí: khi doanh nghiệp tham gia muộn, yêu cầu về công năng, giá thành, khả năng tích hợp và tiêu chuẩn có thể lệch khỏi hướng nghiên cứu.
Bởi vậy, nghiên cứu doanh nghiệp không thể là việc viện, trường hoàn tất đề tài rồi mới mời doanh nghiệp đến nhận kết quả. Doanh nghiệp cần nêu bài toán, góp chuyên môn và nguồn lực, tham gia thử nghiệm, đồng thời chuẩn bị năng lực tiếp nhận. Viện, trường cần phát triển giải pháp phù hợp; Nhà nước có vai trò kiến tạo điều kiện, hỗ trợ và chia sẻ rủi ro theo quy định. Nếu chỉ thay tên chỉ tiêu mà không đổi thời điểm và mức độ tham gia của doanh nghiệp, mục tiêu 30% sẽ khó làm giảm khoảng cách từ phòng nghiên cứu đến ứng dụng.

Đo liên kết bằng chuyển giao và giá trị tạo ra
Số biên bản ghi nhớ không thể đại diện cho chất lượng liên kết. Thước đo cần là công nghệ được chuyển giao, sản phẩm được thương mại hóa và giá trị mới tạo ra cho nền kinh tế. Cách đánh giá này chuyển trọng tâm từ hoạt động sang kết quả: một dự án hợp tác chỉ có ý nghĩa khi xác định được ai chịu trách nhiệm hoàn thiện công nghệ, ai tiếp nhận, quyền khai thác được phân chia ra sao và sản phẩm có thể tìm được thị trường hay không.
Đây cũng là phép thử đối với cơ chế tài trợ và quản trị. Từ cuối năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất đo kết quả liên kết bằng 10 chỉ số, đồng tài trợ theo phần vốn doanh nghiệp thực góp, gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với hợp tác và chuyển giao công nghệ; đồng thời nâng năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp, tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm mới và phát huy vai trò tổ chức trung gian. Nếu các giải pháp này được thực thi nhất quán, thương mại hóa nghiên cứu sẽ trở thành một phần của thiết kế nhiệm vụ, không phải công đoạn phụ sau nghiệm thu.
Từ cam kết đến trách nhiệm cùng làm
Muốn mục tiêu có sức nặng, doanh nghiệp phải hiện diện từ lúc hình thành đề tài đến thử nghiệm và tiếp nhận công nghệ. Nhà nước cần làm rõ cơ chế chia sẻ rủi ro, quyền khai thác và phân chia lợi ích; viện, trường cần gắn nghiên cứu với điều kiện vận hành thực tế; doanh nghiệp phải cùng đầu tư và chịu trách nhiệm ứng dụng. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng được giao xây dựng bản đồ năng lực nghiên cứu để doanh nghiệp tìm đối tác phù hợp, đồng thời phối hợp rà soát lĩnh vực và định hướng mục tiêu khoa học, công nghệ cho 3–5 năm tới.
Mốc 30% chỉ đáng giá nếu kéo theo thay đổi trong cách chọn đề tài, cấp kinh phí và đánh giá thành quả. Liên kết viện trường không nên dừng ở những thỏa thuận đẹp trên giấy: phải có hợp tác nghiên cứu thực chất, chuyển giao công nghệ có người tiếp nhận và sản phẩm tạo ra giá trị. Đó là con đường để biến mục tiêu định lượng thành năng lực đổi mới và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.






