Từ nhận diện con người đến nhận diện cả đối tượng số
Luật Định danh và xác thực điện tử là khuôn khổ pháp lý dự kiến điều chỉnh việc tạo lập, quản lý và sử dụng danh tính điện tử, đồng thời xác định cách các chủ thể và đối tượng được nhận diện, kiểm chứng trong hoạt động trên môi trường số. Điểm thay đổi đáng chú ý của dự thảo là danh tính số không còn giới hạn ở cá nhân: phạm vi định danh được mở rộng thành năm nhóm, gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản; dữ liệu và dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; cùng địa điểm và không gian.
Quy mô ấy không có nghĩa mọi món hàng hay tệp dữ liệu đều lập tức phải định danh. Dự thảo phân biệt nhóm do cơ quan nhà nước trực tiếp định danh với nhóm có thể tham gia theo mô hình tự nguyện thông qua tổ chức đủ điều kiện; Chính phủ sẽ quy định danh mục và lộ trình cho nhóm bắt buộc. Cách giới hạn này là cần thiết: mở rộng phạm vi mà không xác định rõ đối tượng ưu tiên sẽ dễ biến định danh thành gánh nặng tuân thủ hơn là hạ tầng hữu ích. Nhưng nếu thiết kế và triển khai có chọn lọc, việc nhận diện hàng hóa, tài sản và dữ liệu có thể giúp các hệ thống kiểm tra, kết nối thông tin với cơ sở pháp lý rõ hơn.
Quốc hội đang xem xét dự án luật tại Kỳ họp thứ 2; Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang trình bày dự thảo gồm 8 chương, 46 điều, nhằm thiết lập khuôn khổ thống nhất cho hoạt động này. Bản dự thảo ngày 04/7/2026 được Bộ Công an công bố lấy ý kiến từ ngày 13/7 đến ngày 02/8/2026. Bối cảnh cấp thiết là tình trạng dùng thông tin giả, mua bán hoặc cho thuê tài khoản ngân hàng, ví điện tử và tài khoản nền tảng số ngày càng phức tạp.

Xác thực sẽ định hình độ tin cậy của giao dịch trực tuyến
Định danh chỉ tạo ra danh tính; xác thực điện tử mới giúp kiểm tra danh tính ấy khi có giao dịch. Dự thảo đề xuất ba mô hình xác thực: tập trung, trung gian và độc lập, cùng ba mức độ dựa trên số lượng và loại yếu tố được kiểm tra. Mức 1 dùng một yếu tố; mức 2 kết hợp hai yếu tố thuộc nhóm tri thức và sở hữu; mức 3 dùng ít nhất hai yếu tố, trong đó có một yếu tố đặc trưng. Việc phân tầng là hợp lý vì một giao dịch ít rủi ro không nhất thiết cần cùng mức kiểm tra với hoạt động có thể gây thiệt hại lớn.
Giá trị pháp lý của kết quả xác thực cũng mang ý nghĩa thực tế: với cơ quan, tổ chức và cá nhân, kết quả có giá trị xác nhận ai đã tham gia giao dịch hoặc thủ tục tại thời điểm xác thực. Dự thảo còn yêu cầu liên kết, xác thực danh tính đối với giao dịch trên nền tảng số trong một số lĩnh vực như chứng khoán, viễn thông, ngân hàng, bưu chính, thương mại điện tử và khám, chữa bệnh. Với người dùng, điều này có thể làm rõ trách nhiệm khi giao dịch và giảm khoảng trống cho tài khoản ảo, lừa đảo trực tuyến hay giả mạo sinh trắc học bằng trí tuệ nhân tạo.
Tuy nhiên, mức xác thực cao hơn không tự động đồng nghĩa an toàn hơn trong mọi trường hợp. Nếu yêu cầu không tương xứng với rủi ro, trải nghiệm sẽ nặng nề; nếu chuẩn giữa các hệ thống thiếu thống nhất, người dùng vẫn có thể gặp quy trình rời rạc. Vì vậy, tác động của dự thảo đến giao dịch số sẽ phụ thuộc không chỉ vào số lớp xác thực mà còn vào cách chọn mô hình, ghi nhận kết quả và xác định trách nhiệm khi xác thực sai.

Mở dịch vụ phải đi cùng trách nhiệm và quyền kiểm soát dữ liệu
Dự thảo mở đường cho tổ chức đủ điều kiện cung cấp dịch vụ định danh và xác thực, nhưng đây không nên là thị trường chỉ cần có công nghệ là được tham gia. Nhà cung cấp phải được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, có tư cách pháp nhân và năng lực tài chính để duy trì hoạt động liên tục. Các nghĩa vụ được nêu gồm bảo đảm chất lượng, tính liên tục và an toàn của dịch vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại theo quy định. Đây là hàng rào cần thiết vì kết quả xác thực của một đơn vị có thể được nhiều bên khác dựa vào khi chấp nhận giao dịch.
Một hệ thống định danh đáng tin cậy cũng phải trao quyền thực chất cho người dân. Dự thảo nêu nguyên tắc thu thập thông tin tối thiểu, quyền đồng ý và kiểm soát thông tin; chủ thể có thể yêu cầu cập nhật, chỉnh sửa dữ liệu sai hoặc thay đổi, đồng thời được thông báo kịp thời nếu dữ liệu danh tính bị xâm phạm. Nguyên tắc này phải được thực thi rõ ràng, không chỉ ghi trong luật: người dùng cần biết dữ liệu nào được dùng, cho mục đích gì và ai chịu trách nhiệm nếu xảy ra sự cố.
Dự thảo đặt ra một hướng đi có ích: mở rộng danh tính số để tăng độ tin cậy cho giao dịch, nhưng không thể đánh đổi quyền riêng tư lấy sự tiện lợi. Kết quả cuối cùng sẽ tùy thuộc vào danh mục và lộ trình Chính phủ ban hành, chuẩn xác thực giữa các hệ thống và năng lực giám sát nhà cung cấp. Nếu các giới hạn ấy đủ chặt, Luật định danh điện tử có thể trở thành nền tảng cho giao dịch an toàn hơn; nếu không, phạm vi nhận diện càng rộng thì rủi ro lạm dụng dữ liệu càng lớn.







