Tuyên Quang trải thảm 181 dự án: tham vọng lớn nhưng không dễ thắng
Danh mục dự án thu hút đầu tư là tập hợp các dự án ngoài ngân sách được chính quyền địa phương xác định trước về vị trí, quy mô và lĩnh vực ưu tiên, nhằm quảng bá, xúc tiến và mời gọi nhà đầu tư một cách có định hướng, thay vì chờ đợi các đề xuất tự phát từ thị trường. UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 2398/QĐ-UBND về Danh mục 181 dự án thu hút đầu tư ngoài ngân sách giai đoạn 2026–2030, trải rộng trên 8 lĩnh vực từ công nghiệp, du lịch đến hạ tầng kỹ thuật và nông, lâm nghiệp. Đây là bước đi cho thấy tỉnh muốn bước vào cuộc đua vốn đầu tư tỉnh với tư thế chủ động, nhưng số lượng lớn không đồng nghĩa với lợi thế nếu thiếu một chiến lược cạnh tranh rõ ràng trước các địa phương đang đi rất nhanh như Quảng Ngãi và Quảng Ninh.
Điểm đáng chú ý là lĩnh vực công nghiệp chiếm 51 dự án, du lịch 34 dự án, hạ tầng kỹ thuật môi trường 31 dự án, năng lượng 24 dự án, hạ tầng kỹ thuật đô thị 21 dự án, hạ tầng thương mại – bến thủy – logistics 8 dự án, y tế – giáo dục 6 dự án và nông, lâm nghiệp 6 dự án. Cấu trúc này cho thấy Tuyên Quang muốn xây dựng một nền kinh tế đa trụ cột, không chỉ trông vào du lịch hay tài nguyên. Tuy nhiên, khi các địa phương khác đang nhắm mạnh vào công nghệ cao Việt Nam và các chuỗi giá trị sâu, Tuyên Quang sẽ phải trả lời câu hỏi: đâu là “mũi nhọn” thực sự để tạo khác biệt trong bản đồ khu kinh tế Việt Nam đang ngày càng dày đặc.

Chiến lược 8 lĩnh vực của Tuyên Quang: rộng nhưng đã đủ sâu?
Nhìn vào danh mục, Tuyên Quang chọn cách “trải đều” trên 8 lĩnh vực, với trọng tâm là công nghiệp và du lịch. Ở du lịch, các dự án như khu nghỉ dưỡng sinh thái Mỏ Neo, khu nghỉ dưỡng cao cấp Quảng Nguyên, khu du lịch Chiêu Lầu Thi hay khu du lịch sinh thái Nà Hang – Lâm Bình cho thấy tham vọng biến lợi thế cảnh quan thành sản phẩm du lịch quy mô. Ở hạ tầng thương mại và logistics, các dự án khu trung chuyển nông sản, khu logistics kết hợp thương mại – dịch vụ, hạ tầng trung tâm logistics cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy cho thấy tỉnh muốn chen chân vào chuỗi lưu thông hàng hóa khu vực.
Về công nghiệp, việc hình thành nhiều cụm công nghiệp tại Yên Sơn, Bình Ca, Trung Hà, Hùng Đức, Hùng Lợi, Sơn Dương, Yên Lập… cho thấy Tuyên Quang đang chọn mô hình phân tán thay vì tập trung một siêu khu công nghiệp. Cách làm này phù hợp với điều kiện hạ tầng hiện tại nhưng cũng dễ khiến tỉnh khó thu hút các nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực công nghệ cao Việt Nam vốn cần hệ sinh thái đồng bộ. Ưu điểm của Tuyên Quang là danh mục sẽ được rà soát, cập nhật trong quá trình thực hiện thủ tục, nhưng nếu chỉ dừng ở việc “mời gọi chung chung”, tỉnh khó cạnh tranh với những nơi đã xác định rất rõ chuỗi ngành ưu tiên.
Quảng Ngãi: dồn lực vào công nghệ cao và khu kinh tế để dẫn điểm
Trong khi Tuyên Quang mở rộng danh mục, Quảng Ngãi lại chọn cách “siết mục tiêu, nâng chất lượng”. Tỉnh này đặt mục tiêu thu hút 140–150 dự án với tổng vốn 113.000–139.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2026–2030, tập trung vào công nghệ cao, công nghiệp, năng lượng, chế biến, chế tạo và các lĩnh vực giá trị gia tăng cao. Đây là tuyên bố cho thấy Quảng Ngãi không chạy theo số lượng dự án, mà nhắm thẳng vào phân khúc nhà đầu tư có khả năng kéo theo công nghệ, quản trị và chuỗi cung ứng.
Quảng Ngãi ưu tiên mạnh cho công nghiệp công nghệ cao, lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí, điện tử, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, bán dẫn, nông nghiệp công nghệ cao và năng lượng. Riêng tại các khu kinh tế và khu công nghiệp, tỉnh định hướng thu hút khoảng 40–50 dự án, với mục tiêu tỷ lệ vốn thực hiện lũy kế đạt ít nhất 70%. Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp được định vị là hạt nhân, trong đó Khu công nghiệp VSIP II được phát triển theo hướng khu công nghiệp công nghệ cao, ưu tiên ngành có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và thân thiện môi trường. Cách tiếp cận này đặt Quảng Ngãi vào nhóm địa phương đi đầu trong cuộc đua khu kinh tế Việt Nam gắn với công nghệ cao Việt Nam, tạo sức ép cạnh tranh trực tiếp với các tỉnh miền núi như Tuyên Quang.

Quảng Ninh: 26 dự án PPP và bài toán “du lịch cao cấp gắn bảo tồn”
Nếu Quảng Ngãi chọn công nghiệp công nghệ cao làm trụ cột, Quảng Ninh lại củng cố vị thế bằng du lịch và dịch vụ cao cấp. Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh đã xây dựng danh mục 26 dự án hợp tác công – tư (PPP), mời gọi đầu tư vào vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long và Khu di tích – danh thắng Yên Tử. Danh mục này không chỉ là các công trình hạ tầng cứng, mà còn bao gồm công viên biển Bái Tử Long, hạ tầng du lịch vịnh Bái Tử Long, trung tâm đón tiếp – điều phối khách liên vịnh, du lịch sinh thái tại các đảo và vườn quốc gia.
Đáng chú ý, Quảng Ninh còn định hướng phát triển đội du thuyền thám hiểm, tàu nhà hàng tuyến liên thông vịnh Hạ Long – vịnh Bái Tử Long, hệ thống du lịch mạo hiểm và thể thao biển cao cấp (lặn ngắm san hô, leo núi đá…), cùng trung tâm thiền định tại Yên Tử. Theo đề án, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 đón 10–11 triệu lượt khách/năm tại vịnh Hạ Long – vịnh Bái Tử Long và khoảng 4 triệu lượt khách/năm tại Yên Tử, với doanh thu du lịch khoảng 52.000 tỷ đồng mỗi năm. Đây là mô hình cho thấy một chiến lược rõ ràng: dùng các dự án thu hút đầu tư theo hình thức PPP để nâng cấp sản phẩm du lịch, đồng thời gắn chặt với yêu cầu bảo tồn di sản.
Cuộc đua vùng: Tuyên Quang cần gì để không bị “chìm” giữa Quảng Ngãi và Quảng Ninh?
Khi các tỉnh đồng loạt tăng tốc, cạnh tranh thu hút dự án thu hút đầu tư không còn là chuyện “ai mời gọi nhiều hơn”, mà là ai xác định rõ bản sắc và chuỗi giá trị của mình. Quảng Ngãi đang chuyển từ xúc tiến đại trà sang tiếp cận đúng nhà đầu tư, nghiên cứu kỹ thị trường, xác định nhóm đối tác chiến lược, số hóa và công khai danh mục dự án, tăng cường thông tin bằng ngoại ngữ. Quảng Ninh thì dùng 26 dự án PPP để tạo thêm sản phẩm, dịch vụ du lịch nhưng vẫn gắn với yêu cầu bảo tồn di sản. Cả hai đều thể hiện tư duy “ít nhưng trúng”, khác với cách làm truyền thống thiên về liệt kê danh mục dài.
Tuyên Quang đã giao Sở Tài chính phối hợp với các sở, ngành và chính quyền cơ sở tổ chức mời gọi, thu hút đầu tư, đồng thời yêu cầu các địa phương xác định rõ địa điểm, ranh giới, hiện trạng và nguồn gốc đất, hỗ trợ nhà đầu tư tiếp cận thông tin. Danh mục cũng sẽ được rà soát định kỳ hằng năm để điều chỉnh. Tuy nhiên, để không bị tụt lại, Tuyên Quang cần đi xa hơn: xác định một vài lĩnh vực mũi nhọn (ví dụ du lịch sinh thái gắn bản sắc miền núi, logistics nông sản), gắn kết chặt với xu hướng công nghệ cao Việt Nam ở mức phù hợp, và học cách “chọn nhà đầu tư” như Quảng Ngãi đang làm. Trong bối cảnh chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch được nhiều tỉnh định hướng theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm, ai định vị rõ mình trong bản đồ khu kinh tế Việt Nam sẽ là người dẫn nhịp cuộc chơi.






