Rào cản thể chế doanh nghiệp: Cái giá của sự không chắc chắn
Rào cản thể chế doanh nghiệp là tập hợp những quy định, quy trình và cách thực thi chính sách làm tăng chi phí, kéo dài thời gian và tạo rủi ro không cần thiết cho hoạt động kinh doanh, từ khi gia nhập thị trường cho tới lúc rút lui, qua đó kìm hãm phát triển khu vực tư nhân và làm méo mó động lực đầu tư. Trong vài năm qua, số lượng doanh nghiệp đăng ký mới và vốn đăng ký tăng rất nhanh, khu vực tư nhân chiếm tới đa số doanh nghiệp và phần lớn vốn trên thị trường. Nhưng đằng sau những con số ấn tượng là một thực tế đáng lo: doanh nghiệp Việt Nam đông nhưng nhỏ, dễ lập nhưng khó sống khỏe, và khi thất bại thì… khó được “chết” đàng hoàng. Vấn đề không nằm ở tinh thần kinh doanh, mà nằm ở những rào cản thể chế chưa được xử lý đến nơi đến chốn.

Thủ tục hành chính Việt Nam: thời gian trở thành chi phí vô hình
Điểm nghẽn đầu tiên của phát triển khu vực tư nhân nằm ở thủ tục hành chính Việt Nam: doanh nghiệp không chỉ chịu chi phí trực tiếp, mà còn trả giá bằng sự không chắc chắn về thời gian. Tại một diễn đàn kinh tế tư nhân ở miền Trung, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam nhấn mạnh: “Thời gian của doanh nghiệp chính là chi phí. Sự không chắc chắn về thời gian chính là một loại chi phí”. Không hiếm dự án phải mất từ 1 đến 5 năm để hoàn tất thủ tục pháp lý ở địa phương. Sự kéo dài và khó đoán này khiến nhà đầu tư không thể lập kế hoạch dòng tiền, không dám mở rộng quy mô, và luôn phải dành nguồn lực đề phòng việc hồ sơ bị ách tắc. Đăng ký kinh doanh có thể hoàn thành trong dưới một tháng trên lý thuyết, nhưng hướng dẫn mập mờ và cổng dịch vụ trực tuyến trục trặc khiến khoảng 10% doanh nghiệp phải nộp lại hồ sơ từ bốn lần trở lên.
Thể chế lặp lại, hạ tầng logistics và chuỗi cung ứng: mắt xích làm tăng chi phí
Nhìn rộng hơn, rào cản thể chế doanh nghiệp không chỉ nằm ở văn bản, mà ở cách hệ thống vận hành đồng bộ với hạ tầng và chuỗi cung ứng. Qua các vòng đối thoại với doanh nghiệp khắp các địa phương, những vấn đề lặp lại tập trung vào thể chế và thực thi, hạ tầng và logistics, thị trường và chuỗi cung ứng, công nghệ và dữ liệu, vốn và nhân lực. Miền Trung có cao tốc, có cảng nước sâu, có vùng nguyên liệu lớn nhưng mỗi mắt xích lại thiếu một khâu: nơi thiếu kho lạnh, nơi thiếu trung tâm sơ chế, nơi thiếu dữ liệu luồng hàng. Kết quả là chi phí logistics cao, doanh nghiệp địa phương vẫn đứng ngoài chuỗi cung ứng toàn cầu, và hạ tầng lớn trở thành “vật trang trí” hơn là động lực phát triển. Báo cáo khu vực tư nhân mới cũng cho thấy rủi ro thể chế và gánh nặng tuân thủ gia tăng, tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó vì chính sách tăng từ 16,9% lên 24,3%, trong khi chỉ 6–8% có thể dự đoán thường xuyên các thay đổi.
Giải thể doanh nghiệp: khi rút lui cũng thành rào cản
Một nghịch lý khác ít được chú ý nhưng ảnh hưởng mạnh tới tinh thần khởi nghiệp là thủ tục giải thể doanh nghiệp. Với nhiều công ty đã ngừng hoạt động, quy trình chấm dứt pháp nhân trở thành gánh nặng kéo dài, khiến họ phải mất một khoản tiền đáng kể chỉ để hoàn tất việc “khai tử”. Có doanh nghiệp được chia sẻ là phải tốn từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng để được… “chết”, và trong một số trường hợp tổng chi phí còn cao hơn nữa. Nếu muốn đóng mã số thuế, doanh nghiệp phải trải qua nhiều bước kê khai, đối chiếu, nộp phạt, trong khi họ đã không còn kinh doanh và chỉ muốn rút lui. Yêu cầu nộp thuế môn bài và các tờ khai cho doanh nghiệp đã “tắt thở” là thiếu hợp lý, bởi loại thuế này gắn với hoạt động kinh doanh đang diễn ra. Ngành thuế đã báo cáo và đề xuất giải pháp để giảm gánh nặng chi phí thủ tục giải thể, nhằm giúp doanh nghiệp ngừng hoạt động lâu năm rút lui thuận lợi và đúng pháp luật. Nhưng cho tới khi quy trình thực sự được đơn giản hóa, tâm lý ngại khởi nghiệp sẽ còn tiếp diễn.

Số doanh nghiệp tăng mạnh nhưng khu vực tư nhân vẫn nhỏ và yếu
Sự gia tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký trong năm năm qua cho thấy tiềm năng khu vực tư nhân rất lớn. Tuy nhiên, báo cáo về khu vực tư nhân chỉ ra sự yếu kém mang tính cấu trúc: doanh nghiệp nội địa “nhiều về số lượng nhưng nhỏ về quy mô”, hơn 80% có dưới 50 lao động, khoảng 70% vốn đăng ký dưới mức khá thấp. Khu vực tư nhân chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp và hơn 75% vốn đăng ký trên thị trường, nhưng lại kẹt trong vòng luẩn quẩn của hạn chế tiếp cận vốn, chi phí tuân thủ cao, rủi ro thể chế và chi phí không chính thức. Khoảng 26% doanh nghiệp phải chi khoản “bôi trơn” để xin giấy phép kinh doanh, và tình trạng tương tự diễn ra với giấy phép xây dựng, nhập khẩu. Khi việc vào và ra khỏi thị trường đều vướng thủ tục, doanh nghiệp chỉ dám tồn tại nhỏ lẻ, ngắn hạn, tránh đầu tư dài hơi. Những can thiệp gần đây theo định hướng tạo môi trường minh bạch, chủ động là tín hiệu tích cực, nhưng để phát triển khu vực tư nhân, cải cách phải đi thẳng vào các rào cản thể chế sâu nhất.






