Mục tiêu thu hút vốn lớn: tham vọng có cơ sở nhưng không dễ
Quảng Ngãi đầu tư 2026-2030 là chương trình xúc tiến tổng hợp về đầu tư, thương mại, du lịch và khuyến công, đặt mục tiêu thu hút 140-150 dự án trong và ngoài nước, ưu tiên công nghệ cao, công nghiệp xanh, công nghệ sạch để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường, đẩy mạnh chuyển đổi số, gắn với lợi thế khu kinh tế Dung Quất và hạ tầng giao thông liên vùng. Điểm đáng chú ý là tỉnh không chỉ chạy theo số lượng dự án mà nhấn mạnh chất lượng: quy mô lớn, công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường và tạo giá trị gia tăng cao. Đây là bước chuyển tư duy quan trọng, khi mô hình thu hút đầu tư trên diện rộng, “có nhà đầu tư là chào đón”, đang bộc lộ nhiều giới hạn về ô nhiễm, sử dụng đất kém hiệu quả và giá trị gia tăng thấp. Tham vọng thu hút 140-150 dự án qua Chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch và khuyến công giai đoạn 2026-2030 là con số lớn đối với một tỉnh quy mô trung bình. Nó chỉ khả thi nếu Quảng Ngãi dám cạnh tranh trực diện với những địa phương đang dẫn đầu thu hút vốn ngoại Việt Nam như Bắc Ninh, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai bằng chiến lược rõ ràng, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng.

Lợi thế Dung Quất và hạ tầng: điểm cộng lớn nhưng chưa đủ để thắng trong cuộc đua
Quảng Ngãi có một lợi thế hiếm: khu kinh tế Dung Quất, hệ thống khu công nghiệp, cảng biển và mạng lưới giao thông kết nối liên vùng đang ngày càng được hoàn thiện, trở thành nền tảng thu hút nguồn lực đầu tư. So với nhiều tỉnh miền Trung, đây là một “cửa ngõ” công nghiệp nặng đã có thương hiệu, đặc biệt trong lĩnh vực lọc hóa dầu và các ngành công nghiệp cơ khí, luyện kim. Tuy nhiên, lợi thế hạ tầng chỉ là điều kiện cần. Thành công của những địa phương dẫn đầu thu hút vốn ngoại Việt Nam không chỉ đến từ vị trí mà từ cách họ sử dụng vị trí đó cho các nhà đầu tư công nghệ cao, công nghiệp xanh. Dung Quất đang được kỳ vọng đi đầu trong triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài – nghĩa là phải chuyển từ vai “bến đỗ của các dự án công nghiệp nặng truyền thống” sang “cực tăng trưởng thế hệ mới” với chip bán dẫn, thiết bị số, AI, công nghệ sinh học, năng lượng sạch và logistics hiện đại. Nếu Dung Quất chỉ giữ vai trò “kho bãi” cho các ngành sử dụng nhiều tài nguyên, ít công nghệ, Quảng Ngãi sẽ bị bỏ lại phía sau trong vòng 5-10 năm tới, khi xu hướng đầu tư quốc tế dịch chuyển sang chuỗi giá trị cao và công nghiệp xanh.

Chiến lược công nghệ cao, công nghiệp xanh: tham vọng cần được cụ thể hóa
Điểm mạnh nhất trong định hướng mới của Quảng Ngãi là tuyên bố rất rõ: tỉnh ưu tiên thu hút đầu tư các dự án công nghệ cao, công nghiệp xanh, công nghệ sạch, có giá trị gia tăng lớn và thân thiện với môi trường. Các lĩnh vực được nêu đích danh gồm công nghiệp điện tử, chip bán dẫn, thiết bị số; trí tuệ nhân tạo (AI); công nghệ sinh học, y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng, công nghiệp xanh; logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng; tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, du lịch và dịch vụ. Theo chương trình, Quảng Ngãi hướng nguồn vốn vào công nghiệp công nghệ cao, lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí, điện tử, AI, sinh học, bán dẫn, năng lượng, chế biến chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch và dịch vụ. Đây là danh mục tham vọng, nhưng để biến thành thực tế, tỉnh phải trả lời câu hỏi: đâu là ngành mũi nhọn thực sự có khả năng cạnh tranh quốc gia và khu vực? Nếu cố gắng “ôm” quá nhiều lĩnh vực mà không có ưu tiên chiến lược, Quảng Ngãi dễ rơi vào tình trạng danh mục đẹp trên giấy nhưng khó hấp dẫn nhà đầu tư. Các khu kinh tế, khu công nghiệp của tỉnh dự kiến thu hút 40-50 dự án với tổng vốn lớn, phấn đấu lũy kế vốn thực hiện đạt từ 70% trở lên. Con số 70% vốn thực hiện là thước đo quan trọng, vì nó thể hiện khả năng biến cam kết thành dự án vận hành – điểm mà nhiều địa phương vẫn còn yếu.
Tác động đến doanh nghiệp địa phương và người dân: cơ hội mở rộng nếu không bị bỏ lại
Chiến lược thu hút vốn công nghệ cao Quảng Ngãi và công nghiệp xanh Quảng Ngãi không chỉ nhắm đến các tập đoàn lớn mà còn có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Tỉnh dự kiến hỗ trợ 250-300 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia hội chợ, triển lãm, kết nối giao thương; đồng thời đưa hàng Việt về nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và Lý Sơn. Đến năm 2030, ít nhất 50% doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất kinh doanh trên địa bàn có sản phẩm được giới thiệu, quảng bá và giao dịch trên các nền tảng thương mại điện tử. Đây là định hướng đáng hoan nghênh: nếu chỉ tập trung vào nhà đầu tư nước ngoài mà bỏ quên hệ sinh thái doanh nghiệp nội địa, Quảng Ngãi sẽ trở thành “công xưởng cho nơi khác” thay vì là trung tâm phát triển của chính mình. Mục tiêu mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu đối với sản phẩm chủ lực, đặc sản địa phương, sản phẩm công nghiệp nông thôn, OCOP, nông lâm thủy sản… cho thấy tỉnh muốn gắn thu hút đầu tư với nâng cấp chuỗi giá trị địa phương. Tuy nhiên, thách thức lớn là năng lực chuyển đổi số và quản trị của doanh nghiệp nhỏ thường còn hạn chế. Nếu chương trình xúc tiến chỉ dừng ở hỗ trợ tham gia hội chợ, đào tạo ngắn hạn mà thiếu các dịch vụ tư vấn chuyên sâu, hạ tầng số và kết nối lâu dài, người hưởng lợi chính có thể vẫn là các doanh nghiệp lớn.
Tính khả thi và bước đi tiếp theo: Quảng Ngãi cần chọn lọc thay vì trải thảm
Quảng Ngãi sẽ xây dựng và thường xuyên cập nhật danh mục dự án thu hút đầu tư đến năm 2030, rà soát các lĩnh vực ưu tiên để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu hội nhập, gắn với Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050. Danh mục dự án sẽ được công khai, số hóa, cập nhật trên các nền tảng số, cổng thông tin điện tử, đồng thời được giới thiệu, quảng bá qua hội nghị, diễn đàn, hoạt động xúc tiến chuyên ngành. Tỉnh cũng định hướng tổ chức các đoàn công tác tới những quốc gia, vùng lãnh thổ có nguồn vốn lớn đầu tư vào Việt Nam như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Hoa Kỳ, UAE, Qatar, các nước châu Âu…, kết hợp xúc tiến đầu tư với xúc tiến thương mại, du lịch và hợp tác quốc tế. Đây là cách đi phù hợp với mục tiêu thu hút vốn ngoại Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW. "Địa phương xác định thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước có quy mô lớn, công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thân thiện với môi trường là một trong những mục tiêu trọng tâm." Nếu câu tuyên bố này đi kèm cơ chế chọn lọc nhà đầu tư nghiêm ngặt, không trải thảm cho các dự án công nghiệp lạc hậu, khả năng đạt mục tiêu 140-150 dự án sẽ không chỉ là con số trên giấy. Kết luận, Quảng Ngãi đang đứng trước cơ hội tự nâng cấp vị thế từ một tỉnh công nghiệp nặng truyền thống thành điểm đến công nghệ cao và công nghiệp xanh. Tính khả thi của chiến lược phụ thuộc vào ba điểm: dám ưu tiên chất lượng thay vì số lượng, chọn vài ngành mũi nhọn để tập trung nguồn lực, và gắn thu hút đầu tư với nâng cấp doanh nghiệp địa phương. Nếu làm được, Quảng Ngãi không chỉ thu hút vốn mà còn xây dựng được một mô hình phát triển bền vững, có sức cạnh tranh dài hạn.






