Không gian 42.000m²: bước nhảy cho phát triển nghiên cứu Việt Nam
Chiến lược phát triển nghiên cứu Việt Nam hiện nay là xây dựng các trung tâm khoa học quy mô lớn gắn với đào tạo tiến sĩ, kết nối hợp tác quốc tế khoa học và đưa nghiên cứu ra thị trường thông qua mô hình liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nhằm tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bền vững có khả năng giải quyết bài toán thực tiễn ở tầm quốc gia. Việc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo (VNUHCM Innovation Hub - VIH) với tổng diện tích sàn khoảng 42.000m² cho thấy các trường không còn xem nghiên cứu là hoạt động “đóng kín” trong phòng thí nghiệm mà là hạ tầng chiến lược để nâng vị thế trên bản đồ khoa học. Trung tâm được định hướng là tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc trường, đóng vai trò hạt nhân kết nối để xóa bỏ rào cản giữa phòng thí nghiệm và thị trường, đồng thời là đầu mối liên kết chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và đối tác quốc tế. Đây không chỉ là một công trình vật chất, mà là tuyên bố tham vọng đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống kinh tế.
Đào tạo thêm 1.500 tiến sĩ: tham vọng hay yêu cầu tất yếu?
Cùng với việc hoàn thiện hạ tầng trung tâm khoa học, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu giai đoạn 2026–2030 sẽ có thêm khoảng 1.500 tiến sĩ. Đây là con số tham vọng, nhưng là yêu cầu tất yếu nếu các trường muốn trở thành đại học nghiên cứu thực sự. Không có đội ngũ tiến sĩ đủ lớn và đủ mạnh, mọi lời nói về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo sẽ khó vượt qua mức khẩu hiệu. Trung tâm VIH được thiết kế như một không gian liên kết “ba nhà”: Nhà nước – đại học – doanh nghiệp. Nếu không biến được con số 1.500 tiến sĩ thành những nhà khoa học gắn với doanh nghiệp, địa phương và các bài toán thực tiễn, chiến lược đào tạo sẽ mất ý nghĩa. Câu chuyện đào tạo tiến sĩ vì thế phải gắn chặt với cơ chế tham gia dự án hợp tác, thương mại hóa nghiên cứu và trách nhiệm giải quyết vấn đề xã hội. Ở đây, diện tích 42.000m² chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là mô hình quản trị và văn hóa nghiên cứu đặt chuẩn quốc tế làm thước đo.
Nền tảng khoa học cơ bản: lợi thế chiến lược của Đại học Khoa học Tự nhiên
Trong khi một bên mở trung tâm đổi mới sáng tạo, Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội lại đi lên từ nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và xem đó là lợi thế dài hạn. Đến tháng 6/2026, quy mô đào tạo của trường đạt 10.442 người, gồm 1.801 học sinh THPT Chuyên, 7.873 sinh viên đại học chính quy, 601 học viên cao học và 167 nghiên cứu sinh. Mô hình “đào tạo gắn với nghiên cứu, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài” giúp trường sở hữu dải nhân lực khoa học trẻ liên thông từ phổ thông đến sau đại học. Từ nền tảng này, trường xây hệ thống nghiên cứu với 1 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia về Công nghệ Enzym và Protein, 6 phòng thí nghiệm trọng điểm cấp ĐHQGHN và 19 nhóm nghiên cứu mạnh cấp trường, trong đó có 10 nhóm cấp ĐHQGHN. Đây là hạ tầng cho các hướng liên ngành chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, khoa học dữ liệu, công nghệ sinh học, môi trường và năng lượng xanh. Chiến lược rõ ràng: củng cố khoa học cơ bản để mở cửa sang công nghệ mũi nhọn, thay vì chạy theo trào lưu ngắn hạn.

Công bố quốc tế và hợp tác doanh nghiệp: thước đo mới của đại học nghiên cứu
Các trường đại học hàng đầu đang dịch chuyển thước đo thành công từ số lượng đào tạo thuần túy sang chỉ số công bố quốc tế và hợp tác thực chất. Năm 2025, các nhà khoa học của Đại học Khoa học Tự nhiên công bố 648 bài báo trên các tạp chí thuộc danh mục WoS/Scopus, cùng 141 bài báo trong nước và 11 sách, chương sách chuyên khảo. Đây là con số cho thấy năng lực xuất bản trên tạp chí quốc tế uy tín đã trở thành mục tiêu chiến lược chứ không phải thành tích cá nhân. Đáng chú ý hơn, số nhiệm vụ hợp tác với doanh nghiệp tăng từ 8 lên 39, gần gấp 5 lần so với năm học trước. Các hoạt động hợp tác chuyển từ ký kết hình thức sang triển khai trong đào tạo, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Câu nói dễ trích dẫn ở đây là: “Trường ký mới hoặc gia hạn 23 thỏa thuận hợp tác quốc tế; đón 145 lượt chuyên gia, học giả quốc tế đến làm việc, giảng dạy và nghiên cứu, tăng hơn 61% so với năm học trước.” Khi công bố quốc tế đi cùng hợp tác doanh nghiệp, đại học nghiên cứu mới thực sự bám vào đời sống.

Kết luận: từ phòng thí nghiệm đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Nhìn từ Trung tâm Đổi mới sáng tạo 42.000m² và chiến lược của Đại học Khoa học Tự nhiên, có thể thấy các đại học hàng đầu đang cùng hướng tới một mục tiêu: xây dựng hệ sinh thái phát triển nghiên cứu Việt Nam gắn với đào tạo tiến sĩ và hợp tác quốc tế khoa học. Một bên mở không gian kết nối nhà khoa học, doanh nghiệp và đối tác quốc tế để xóa bỏ rào cản giữa phòng thí nghiệm và thị trường. Bên còn lại dùng nền tảng khoa học cơ bản, hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm và nhóm nghiên cứu mạnh để gia tăng công bố quốc tế, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thu hút nhà khoa học xuất sắc. Điểm chung là cả hai đều buộc phải đổi mới quản trị, chuyển từ tư duy bao cấp sang tự chủ, quản trị theo hiệu quả và kết quả đầu ra. Đây mới là “hạ tầng mềm” quyết định thành công của các trung tâm khoa học. Nếu chiến lược được thực hiện nhất quán, mục tiêu đào tạo thêm hàng nghìn tiến sĩ và đưa đại học Việt Nam tiến gần chuẩn đại học nghiên cứu quốc tế không còn là khẩu hiệu, mà là lộ trình có cơ sở rõ ràng.






