Tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai: Mục tiêu chính trị, bài toán hệ thống
Việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là định hướng chính sách yêu cầu học sinh không chỉ học để thi mà phải sử dụng tiếng Anh một cách thường xuyên trong học tập, giao tiếp và tiếp cận tri thức, qua đó biến tiếng Anh từ một môn ngoại ngữ thành công cụ sống còn của giáo dục ngoại ngữ Việt Nam. Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 nêu rõ yêu cầu “tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học” cùng với nâng chuẩn giáo viên, học sinh và bảo đảm cơ sở vật chất, công nghệ. Tuy vậy, điểm thi tốt nghiệp cho thấy tiếng Anh vẫn là “điểm yếu” của hệ thống: năm 2026, 50,23% trong hơn 334.500 thí sinh đạt dưới 5 điểm, điểm trung bình giảm còn 5,07 và số bài điểm liệt tăng từ 28 lên 61. Nếu tiếp tục coi tiếng Anh là môn thi hơn là năng lực sử dụng, mục tiêu tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai sẽ mắc kẹt trên giấy.

Thi cử không cứu được một hệ thống dạy tiếng Anh lạc hậu
Việc xếp tiếng Anh ngang toán, ngữ văn trong đánh giá học sinh và tuyển sinh lớp 10 cho thấy hệ thống đang dùng thi cử để ép động lực học tiếng Anh. Nhưng dữ liệu nhiều năm liên tiếp – tỷ lệ bài thi dưới trung bình vẫn ở mức cao, từ 68,74% năm 2019 xuống 38,22% năm 2025 rồi lại bật lên 50,23% năm 2026 – đã chứng minh một điều: không có kỳ thi nào thay thế được đổi mới phương pháp dạy tiếng Anh và môi trường học tập. Khi lớp học vẫn nặng ngữ pháp, nhẹ nghe nói, học sinh tiếp tục coi tiếng Anh là môn dành cho người “có năng khiếu” hoặc chuẩn bị du học, thay vì kỹ năng tối thiểu để hội nhập. Nếu Bộ GD&ĐT chỉ tăng thời lượng và nâng chuẩn chứng chỉ mà không sắp xếp lại cách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và tổ chức đời sống học đường, tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai sẽ dừng ở mức khẩu hiệu.

Giáo viên, chương trình, cơ sở vật chất: Ba trụ cột phải được siết lại
Ở trung tâm của câu chuyện tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai là người thầy. Một giảng viên ngành phương pháp giảng dạy tiếng Anh đề xuất giáo viên tiếng Anh ngoài bằng sư phạm cần đạt IELTS tối thiểu 7,5, phát âm chuẩn và đủ tự tin dạy cả nghe, nói thay vì chỉ dừng ở ngữ pháp, từ vựng. Đây là yêu cầu hợp lý: thầy không giỏi, trò khó có cơ hội sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ làm việc. Song nâng chuẩn cá nhân không đủ nếu chương trình vẫn thiết kế thiên về luyện đề và cơ sở vật chất nghèo nàn. Bộ Chính trị đã yêu cầu bảo đảm đủ số lượng giáo viên, trình độ, cơ sở vật chất và công nghệ cho giáo dục ngoại ngữ Việt Nam, gắn với đầu tư phòng học, thiết bị nghe nhìn và hạ tầng số. Không có đầu tư cơ sở vật chất mang tính hệ thống, mọi nỗ lực cải tiến phương pháp sẽ bị “đứt gãy” ở trường vùng sâu, vùng xa, nơi khoảng cách chất lượng đang rất lớn.
AI học tiếng Anh: Công cụ mạnh nhưng không phải chiếc đũa thần
Hệ thống chính sách mới kỳ vọng trí tuệ nhân tạo mở ra cách học tiếng Anh linh hoạt hơn, từ lớp học thông minh đến ứng dụng cá nhân hóa nội dung, tạo môi trường giao tiếp quốc tế ngay trong lớp. Theo Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Quyên Thanh, AI có thể hỗ trợ cá nhân hóa việc học, mở rộng truy cập học liệu và tạo môi trường giao tiếp, nhưng vai trò của công nghệ phải là hỗ trợ, không thay thế giáo viên. Câu nói này nên được xem như “kim chỉ nam”: “AI supports both teachers and students, but it cannot replace teachers in the goal of making English a second language in schools”. Nếu nhà trường dùng AI để thay thầy, học sinh sẽ thiếu tư duy phản biện, sáng tạo và giao tiếp thật – những yếu tố không thể mô phỏng hoàn toàn bằng máy. AI học tiếng Anh chỉ phát huy khi được gắn với đổi mới phương pháp dạy tiếng Anh, tăng tương tác, câu lạc bộ, hoạt động hùng biện và học trực tuyến xuyên biên giới.

Năm nhóm thách thức và điều kiện để tiếng Anh thoát khỏi vị trí “đội sổ”
Các chuyên gia trong và ngoài nước cùng Bộ GD&ĐT đã chỉ ra năm nhóm vấn đề cốt lõi: chuyển từ dạy ngoại ngữ sang phát triển năng lực ngôn ngữ thứ hai gắn với chính sách; công nghệ và học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai; phương pháp dạy và chương trình đào tạo; ngôn ngữ học; và phát triển chuyên môn giáo viên. Những nhóm này phản ánh đúng yêu cầu phải xử lý đồng thời chính sách, hạ tầng và sư phạm, thay vì sửa từng mảng riêng lẻ. Đồng thời, triển khai phải tính đến chênh lệch giữa đô thị, nông thôn, vùng sâu, vùng khó để mục tiêu nâng trình ngoại ngữ không làm rộng thêm khoảng cách cơ hội. Nếu hệ thống giáo dục coi tiếng Anh như “ngôn ngữ sau tiếng Việt” và đầu tư tương xứng cho cả giáo viên, chương trình, đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ, kết hợp AI với lớp học sống động, chất lượng môn tiếng Anh có cơ hội cải thiện và phổ điểm tốt nghiệp sẽ không còn ở vị trí khiêm tốn như nhiều năm qua.





