Kinh tế biển Việt Nam: Từ không gian khai thác sang không gian phát triển chiến lược
Kinh tế biển Việt Nam là tổng thể các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, ven biển và từ biển, bao gồm khai thác tài nguyên, năng lượng tái tạo biển, logistics hàng hải, nuôi trồng thủy sản công nghệ và các ngành dịch vụ gắn với không gian biển rộng gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, coi biển là không gian phát triển chiến lược dài hạn của quốc gia. Nghị quyết 20-NQ/TW, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thông qua ngày 28/7/2026, là bước ngoặt vì buộc chúng ta bỏ cách nghĩ biển chỉ là nơi lấy tài nguyên rẻ, chuyển sang xem biển là tài sản cần quản trị hiện đại. Tinh thần mới rất rõ ràng: không còn phát triển kinh tế biển Việt Nam theo từng ngành rời rạc, mà là quản trị tổng hợp cả không gian biển quốc gia để tạo sức bật tăng trưởng, bảo vệ hệ sinh thái và chủ quyền cùng lúc. Nếu không thay đổi tư duy, mọi tiềm năng ngoài khơi sẽ tiếp tục ngủ yên dưới những báo cáo quy hoạch đẹp.

Năng lượng tái tạo biển: Trụ cột tăng trưởng mới nhưng đòi hỏi vốn và công nghệ khổng lồ
Với gió, sóng, thủy triều và mặt trời trên biển, Việt Nam đang ngồi trên một kho năng lượng tái tạo biển mà chưa khai thác được bao nhiêu. Hà Tĩnh là ví dụ điển hình: bờ biển dài 137 km, diện tích mặt nước khoảng 18.400 km², vùng biển có vận tốc gió trung bình ở độ cao 100 m đạt 9–10 m/s, mật độ năng lượng gió trên 500 W/m² – thông số đủ để phát triển các dự án điện gió ngoài khơi quy mô lớn. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tỉnh này được phân bổ 19 dự án điện gió với tổng công suất hơn 2.300 MW cùng các dự án điện mặt trời khoảng 2.100–2.500 MW. Đây không còn là câu chuyện vài tuabin thử nghiệm, mà là công nghiệp năng lượng xanh gắn với cảng biển, logistics, hydrogen và amoniac xanh ngoài khơi. Điện gió ngoài khơi chỉ thành trụ cột kinh tế khi chúng ta chấp nhận cuộc chơi vốn lớn, công nghệ cao và năng lực quản trị tinh vi.

Logistics hàng hải: Hệ thần kinh của không gian biển hiện đại
Không có logistics hàng hải hiện đại, mọi câu chuyện năng lượng hay nuôi trồng công nghệ cao chỉ là kế hoạch trên giấy. Đà Nẵng đang chứng minh điều này khi lựa chọn hạ tầng logistics làm mũi nhọn để trở thành trung tâm kinh tế biển động lực. Thành phố nằm trên các trục Bắc–Nam, Đông–Tây và từ lục địa ra biển, là cửa ngõ phía Đông của Hành lang kinh tế Đông–Tây kết nối với Lào, Thái Lan, Myanmar; hệ thống cảng biển, hàng không, đường bộ, đường sắt cho phép hình thành mạng lưới logistics đa phương thức. Quan trọng hơn, Đà Nẵng chuyển từ tư duy “khai thác biển” sang “quản trị không gian biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và thông minh”, xây dựng hệ sinh thái logistics tích hợp gắn giao thông với sản xuất, thương mại, phân phối, tài chính và công nghệ. Nếu các tỉnh ven biển phát triển theo hướng này, logistics hàng hải sẽ trở thành hệ thần kinh kết nối toàn bộ chuỗi giá trị kinh tế biển Việt Nam.

Nuôi trồng thủy sản công nghệ cao: Từ lồng bè truyền thống đến chuỗi giá trị xanh
Trong bức tranh kinh tế biển mới, nuôi trồng thủy sản công nghệ không còn là nghề nhỏ lẻ của ngư dân mà là ngành công nghiệp sinh học biển gắn với dữ liệu và chuỗi giá trị toàn cầu. Thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW, Khánh Hòa đã xác định nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao là hướng đột phá, xây dựng các vùng nuôi quản lý theo sức chịu tải môi trường, có thể truy xuất nguồn gốc. Tỉnh hỗ trợ người dân chuyển lồng bè truyền thống sang vật liệu mới chịu sóng gió, đồng thời khuyến khích dùng hệ thống cho ăn tự động, camera giám sát, cảm biến môi trường và quản lý dữ liệu từ xa. Theo Phó Cục trưởng Cục Biển đảo Việt Nam Nguyễn Việt Dũng, cơ cấu lại ngành thủy sản phải ưu tiên nuôi biển công nghiệp, xa bờ và các mô hình nuôi biển thông minh tích hợp năng lượng tái tạo và công nghệ số. Việc chuyển từ khai thác đơn thuần sang phát triển theo chuỗi giá trị giúp Khánh Hòa nâng cao giá trị kinh tế thủy sản, giữ môi trường và tăng thu nhập cho cư dân ven biển.
Từ tư duy khai thác sang quản trị: Điều kiện để các tỉnh ven biển phát triển bền vững
Tất cả các bước đi của Đà Nẵng, Khánh Hòa, Hà Tĩnh đều có điểm chung: bám sát khuôn khổ Nghị quyết 20-NQ/TW để thiết kế chiến lược kinh tế biển không còn bị chia cắt theo ngành, mà dựa trên quản trị thống nhất không gian biển quốc gia. Sau tám năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW, kinh tế biển đã đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế–xã hội và bảo vệ chủ quyền, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vì cách tổ chức thực hiện phân tán, biến đổi khí hậu và dịch bệnh. Nghị quyết mới chủ trương quản lý tổng hợp, quy hoạch không gian biển đến 2030, tầm nhìn 2050, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Quan điểm thẳng thắn cần nói rõ: nếu không huy động được nguồn lực đầu tư xanh quy mô lớn vào năng lượng tái tạo biển, logistics hàng hải và nuôi trồng thủy sản công nghệ, mục tiêu đến 2045 “giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, công nghệ biển tiên tiến” sẽ chỉ dừng lại ở khẩu hiệu.






