Môn học tích hợp THCS là gì và vì sao sau 5 năm phải xem lại?
Môn học tích hợp THCS là cách tổ chức chương trình trong đó các lĩnh vực kiến thức gần nhau, như Vật lý, Hóa học, Sinh học hay Lịch sử và Địa lý, được gộp vào một môn chung nhằm giúp học sinh kết nối kiến thức thay vì học từng môn tách rời hoàn toàn. Sau 5 năm triển khai, bức tranh không còn là màu hồng. Môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý ở THCS vẫn bộc lộ bất cập: giáo viên khó dạy ngoài chuyên môn, các mạch kiến thức thiếu liền mạch. Đồng thời, sau 5 năm triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc rà soát, điều chỉnh chương trình và sách giáo khoa đang nhận được sự quan tâm của đông đảo dư luận và đội ngũ giáo viên. Nói thẳng: nếu không chỉnh, mô hình này có nguy cơ biến “tích hợp” thành “ghép cơ học”.

Giáo viên kẹt giữa lý tưởng tích hợp và thực tế đơn môn
Cốt lõi của mọi đổi mới là người dạy, nhưng với môn học tích hợp THCS, giáo viên đang là nhóm chịu áp lực lớn nhất. Giáo viên gặp khó khăn khi dạy kiến thức ngoài chuyên môn được đào tạo; việc tổ chức môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý cũng đặt ra yêu cầu về sự phối hợp giảng dạy và tính liền mạch của kiến thức. Nhiều thầy cô vốn được đào tạo đơn môn phải tự học thêm để đáp ứng yêu cầu dạy học tích hợp, song tập huấn ngắn hạn khó thể thay thế quá trình đào tạo chuyên sâu. Một giáo viên Sinh học ở TP.HCM chia sẻ vẫn lúng túng khi dạy mạch Hóa học, chỉ dám dừng ở câu hỏi nhận biết và không dám đưa ví dụ ngoài sách giáo khoa mới vì lo sai kiến thức. Khi người dạy không thực sự làm chủ nội dung, mục tiêu phát triển năng lực học sinh bị kéo lùi.
Mạch kiến thức bị chia cắt, học sinh yếu càng dễ bị bỏ lại
Trên lý thuyết, tích hợp giúp phát triển năng lực học sinh thông qua việc huy động kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề. Nhưng trong lớp học, nhiều nơi triển khai theo kiểu “ba người dạy một môn”: môn Khoa học tự nhiên được phân công cho ba giáo viên, môn Lịch sử và Địa lý cho hai giáo viên, kiểm tra đánh giá tách thành các phần riêng, trong khi sự kết nối về chuyên môn và nội dung tích hợp chưa rõ nét. Trong một học kỳ, khoảng 140 tiết Khoa học tự nhiên phải được phân bổ cho các phân môn, khiến tiến độ và mạch kiến thức dễ bị chia nhỏ, rời rạc. Với học sinh vùng khó, nền tảng tiếng Việt, kỹ năng đọc hiểu còn hạn chế, yêu cầu kết nối nhiều mạch kiến thức càng khiến các em dễ hụt hơi; nếu không được củng cố nền tảng và hướng dẫn phù hợp, những học sinh vốn đã gặp khó khăn càng dễ bị hụt lại phía sau.
Sửa đổi chương trình giáo dục: Không cực đoan giữ nguyên hay quay lại như cũ
Điểm tích cực là ngành giáo dục đã thừa nhận vấn đề. Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang rà soát, cập nhật, bổ sung, điều chỉnh Chương trình giáo dục phổ thông 2018; dự kiến bộ sách mới sẽ hoàn thiện và sử dụng từ năm học 2028-2029. Việc rà soát, điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa cần xuất phát từ những vấn đề được nhận diện qua thực tiễn dạy học, với các giải pháp cụ thể, có căn cứ. Theo các chuyên gia, nếu mô hình tích hợp khiến giáo viên khó dạy, học sinh khó học và nhà trường khó bố trí nhân lực thì cần được đánh giá, nhìn nhận nghiêm túc, không nên cố giữ chỉ vì “đã lỡ làm”, nhưng cũng không vội vàng quay về mô hình cũ. Câu hỏi cần đặt ra là: tích hợp đến mức nào, ở lớp nào, với điều kiện đội ngũ ra sao thì phù hợp.

Điều chỉnh môn học tích hợp THCS thế nào để không gây xáo trộn?
Muốn sửa đổi chương trình giáo dục hiệu quả, cần chấp nhận một lộ trình vừa kiên quyết vừa ổn định. Quá trình rà soát phải có lộ trình, không làm gián đoạn hoặc gây xáo trộn không cần thiết đối với hoạt động dạy và học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập các nhóm nghiên cứu, tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ quản lý, giáo viên và các đối tượng liên quan. Việc thẩm định, biên soạn sách giáo khoa mới phải huy động ý kiến rộng rãi, xác định rõ nội dung nào duy trì, nội dung nào điều chỉnh hoặc thay thế, đồng thời tiếp nhận phản ánh về nội dung, ngữ liệu trong sách giáo khoa để xử lý đúng quy trình. Mục tiêu cuối cùng là chương trình và sách giáo khoa ngày càng phù hợp với giáo viên, học sinh, điều kiện từng địa phương, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực của người học thay vì tạo thêm gánh nặng hình thức.






