Quốc gia biển mạnh bắt đầu từ cảng xanh, cảng số và doanh nghiệp dẫn dắt
Quốc gia biển mạnh là quốc gia không chỉ có nhiều cảng biển, đội tàu và tài nguyên, mà còn làm chủ được chuỗi giá trị biển nhờ hệ thống cảng xanh, cảng số hóa và các doanh nghiệp dẫn dắt đủ sức cạnh tranh quốc tế, từ đó tạo ra của cải bền vững từ đại dương. Muốn đạt được điều đó, Việt Nam không thể tiếp tục tư duy “khai thác chỗ nào được thì khai thác”, mà phải chuyển sang quản trị biển hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số. Nghị quyết 20-NQ/TW do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ngày 28/7/2026 đặt mục tiêu xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2030, hướng tới một nền kinh tế “giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển”.

Cảng xanh Việt Nam: từ khẩu hiệu đến tiêu chuẩn cạnh tranh
Nếu coi cảng biển là “cổng xuất nhập khẩu” của nền kinh tế, thì cảng xanh Việt Nam chính là giấy thông hành mới để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Nghị quyết 20 đặt mục tiêu hoàn thiện hệ thống cảng biển theo hướng xanh, thông minh, hiện đại. Điều này không thể hiểu giản lược là thay vài thiết bị diesel bằng thiết bị điện hay trồng thêm cây trong khu cảng; đó phải là sự chuyển đổi toàn diện từ quy hoạch, thiết kế, xây dựng tới khai thác, bảo trì và kết nối logistics sau cảng. Một ví dụ cho cách làm đúng là cảng Gemalink ở Cái Mép, nơi đã được công nhận tiêu chuẩn cảng xanh của Cục Hàng hải, trở thành mắt xích quan trọng trong hành lang vận tải xanh thế giới. Quyết định 876/QĐ-TTg thậm chí đặt lộ trình rõ ràng: từ sau 2031, dự án cảng mới phải dùng thiết bị điện hoặc năng lượng xanh; đến 2050, toàn bộ trang thiết bị cảng và báo hiệu hàng hải phải đáp ứng yêu cầu này.

Cảng số hóa: “bộ não” mới của hệ thống hàng hải mạnh
Trong cuộc đua hàng hải mạnh, cảng số hóa không còn là lựa chọn mà là điều kiện tồn tại. Năng lực cạnh tranh của cảng biển tương lai sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào tốc độ xử lý, tính minh bạch, khả năng dự báo và độ tin cậy của toàn chuỗi cung ứng. Điều đó đòi hỏi hạ tầng số từ giai đoạn thiết kế đến vận hành: mô hình thông tin công trình (BIM) cho vòng đời cảng, kết hợp với Digital Twin để cập nhật dữ liệu thực, mô phỏng kịch bản xếp dỡ, luồng tàu, bãi và cổng cảng. Một hệ cảng số như vậy có thể chủ động điều phối tàu, dự báo bảo trì thiết bị, quản lý điện năng và phát thải, giám sát môi trường và chuẩn bị kịch bản ứng phó sự cố. Ở tầng dịch vụ, các nền tảng như SmartPort và SmartGate cho phép khách hàng hoàn thành thủ tục giao nhận trong khoảng 10 phút thay vì 3-4 giờ, đồng thời dùng AI nhận diện số container, biển số xe và nhiều thông tin khác.

Doanh nghiệp dẫn dắt và cú bắt tay nông nghiệp – hàng hải
Cảng xanh và cảng số chỉ là “hai chân” nếu thiếu trụ cột doanh nghiệp dẫn dắt. Nghị quyết 20 yêu cầu phát triển mạnh doanh nghiệp biển, hình thành các tập đoàn nhà nước và tư nhân quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh quốc tế và gắn kết với các tập đoàn đa quốc gia. Vai trò của Nhà nước là đầu tư vốn mồi, hạ tầng dùng chung như luồng hàng hải, báo hiệu, giao thông kết nối; còn bến cảng, thiết bị và tổ chức nguồn hàng nên do doanh nghiệp đầu tư và vận hành. Mô hình “Nhà nước kiến tạo – doanh nghiệp đầu tư” ở cụm cảng Cái Mép - Thị Vải cho thấy nếu phân vai rõ ràng, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra cảng nước sâu hiện đại gắn trực tiếp với mạng vận tải biển toàn cầu. Điều đáng nói hơn: doanh nghiệp hàng hải không chỉ phục vụ hàng công nghiệp mà còn là “đường cao tốc” cho xuất khẩu nông sản, đặc biệt khi Việt Nam đang chủ động mang thế mạnh nông nghiệp sang các thị trường như Bờ Biển Ngà.

Từ hợp tác nông nghiệp với Bờ Biển Ngà tới chiến lược “Lương thực – Giá trị – Con người” trên biển
Chiều 24/8 tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch Quốc hội Bờ Biển Ngà đã thăm và làm việc tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam; tại đây, GS.TS. Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh hợp tác phải xuất phát từ nhu cầu phát triển thực tế của Bờ Biển Ngà. Khung hợp tác 2026-2030 đặt ba mục tiêu xuyên suốt: tăng khả năng chủ động lương thực, gia tăng giá trị nông sản tại chỗ và phát triển nguồn nhân lực tiếp nhận, làm chủ công nghệ, chính sách nông nghiệp. Theo Chủ tịch Quốc hội Bờ Biển Ngà Patrick Achi, Việt Nam sản xuất khoảng 45 triệu tấn lúa gạo mỗi năm, trong khi Bờ Biển Ngà chỉ đạt 2 triệu tấn dù diện tích tương đồng. Với điều, Bờ Biển Ngà đạt hơn 1,2 triệu tấn, cao hơn nhiều so với 350.000 tấn của Việt Nam, nhưng giá trị gia tăng phía Việt Nam lại lớn hơn. Hợp tác nông nghiệp số, chuỗi giá trị cacao, điều, cà phê và lúa gạo – cùng mạng lưới cảng xanh, cảng số – sẽ quyết định Việt Nam xuất khẩu nông sản với vai trò “ngã ba” logistics giữa châu Á, châu Phi và các thị trường khác.





