IELTS: Từ kỳ thi ngoại ngữ đến công cụ tạo bất bình đẳng giáo dục
IELTS bất bình đẳng giáo dục là hiện tượng kỳ thi IELTS, khi được gắn với xét tuyển đại học và điểm cộng ưu tiên, tạo ra cuộc đua chứng chỉ tốn kém, làm nới rộng chênh lệch cơ hội tiếp cận giáo dục giữa học sinh có điều kiện và nhóm yếu thế, đồng thời gây áp lực thi IELTS lên sức khỏe tinh thần của người học. Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến dự thảo sửa đổi quy định tuyển sinh đại học, trong đó đề xuất bỏ điểm cộng từ các chứng chỉ như IELTS, thay đổi đã thổi bùng tranh luận trên mạng xã hội và trong cộng đồng giáo dục. Việc này không phải là phủ nhận giá trị tiếng Anh, mà là câu hỏi rất trực diện: ai đang được hưởng lợi từ cuộc đua IELTS và ai bị bỏ lại phía sau trong hệ thống xét tuyển đại học IELTS hiện nay.
Áp lực thi IELTS: Cơ hội học tập đi kèm nguy cơ kiệt sức
Không thể phủ nhận IELTS mở ra nhiều cánh cửa: từ học bổng, chương trình quốc tế đến việc chứng minh năng lực học tập và làm việc bằng tiếng Anh. Nhưng khi chứng chỉ này trở thành thước đo nổi trội trong trường lớp, áp lực thi IELTS đã vượt xa một kỳ kiểm tra ngoại ngữ. Nghiên cứu về hiện tượng kiệt sức ở người học IELTS cho thấy áp lực không chỉ đến từ đề thi, mà còn từ kỳ vọng gia đình, sự so sánh với bạn bè, thông điệp từ giáo viên, trung tâm và yêu cầu tuyển sinh của các trường – tổng hòa thành áp lực xã hội khiến nguy cơ kiệt sức tăng cao. Học sinh ôn luyện liên tục, làm đề thử dày đặc, nhiều em không còn cảm giác mình chủ động học tiếng Anh mà bị cuốn vào một cuộc đua điểm số, nơi lợi ích dài hạn bị thu hẹp vào một con điểm trên bảng xét tuyển.
Chi phí chuẩn bị IELTS: rào cản vô hình với học sinh thu nhập thấp
Đằng sau mỗi tấm chứng chỉ là chi phí chuẩn bị IELTS không hề nhỏ: khóa luyện thi, đề mẫu, tài liệu, thi thử, lệ phí thi… Với học sinh ở đô thị, việc dành vài năm ôn luyện tại trung tâm, chi nhiều chục triệu cho các lớp IELTS được xem là khoản đầu tư gần như bắt buộc để “săn” điểm cộng xét tuyển đại học IELTS. Ngược lại, một mentor học bổng kể rằng dù học chuyên tiếng Anh và theo học trường top, cô vẫn phải chắt chiu thu nhập từ dạy thêm và thực tập mới đủ tiền luyện và đăng ký thi IELTS, vì điều kiện tài chính là rào cản lớn. Nguy hiểm hơn, một số trung tâm còn hướng dẫn học viên vay tiền ngân hàng hoặc công ty tài chính để đóng học phí, biến cuộc đua chứng chỉ thành những khoản nợ kéo dài cho gia đình và người học. Khi chính sách tuyển sinh ưu ái điểm IELTS, áp lực đổ tiền vào chứng chỉ càng gia tăng và bất công càng rõ rệt.
Khoảng cách cơ hội tiếp cận giáo dục giữa học sinh thành thị và vùng yếu thế
Các nghiên cứu cảnh báo cuộc chạy đua IELTS đã tạo ra một xu hướng thiếu lành mạnh trong dạy và học tiếng Anh, đồng thời làm nới rộng khoảng cách kinh tế – xã hội giữa học sinh các vùng miền. Học sinh thành phố, gia đình khá giả có điều kiện học từ cấp THCS, tiếp cận giáo viên giỏi, môi trường tiếng Anh phong phú, thi lại nhiều lần nếu điểm chưa như ý. Trong khi đó, học sinh vùng cao, huyện nghèo thiếu giáo viên, thiếu môi trường, thiếu trung tâm khảo thí, cơ hội chạm tới chứng chỉ này gần như bị thu hẹp. Khi IELTS được dùng như lợi thế xét tuyển đại học, hệ thống vô tình khuyến khích “sân chơi” chỉ dành cho những người đủ tiền và đủ hạ tầng tiếp cận. Đây không còn là chênh lệch cá nhân, mà là bất bình đẳng mang tính hệ thống trong cơ hội tiếp cận giáo dục đại học chất lượng cao và đường đi học bổng quốc tế cho cả một thế hệ.
Bỏ điểm cộng IELTS: Cần thiết nhưng chưa đủ để thu hẹp bất bình đẳng
Dự thảo bỏ điểm cộng IELTS trong tuyển sinh từ năm 2027 nhận được nhiều ủng hộ vì có thể giảm bớt lợi thế tuyển sinh gắn với điều kiện tiếp cận chứng chỉ, hạn chế chi phí tốn kém và tăng tính công bằng. Cơ quan quản lý cũng nhấn mạnh không nên đồng nhất “không được cộng điểm” với “học ngoại ngữ không còn giá trị”, đồng thời giữ nguyên các diện ưu tiên chính sách, khu vực và xét tuyển thẳng. Đây là bước đi đúng hướng: đặt IELTS trở lại vị trí là công cụ đánh giá năng lực trong những ngành thực sự cần, thay vì tấm vé ưu tiên cho mọi cánh cửa đại học. Tuy vậy, nếu không song song cải thiện chất lượng dạy tiếng Anh ở trường công, mở rộng cơ hội học ngoại ngữ miễn phí hoặc giá thấp cho học sinh khó khăn, cuộc đua chứng chỉ rất dễ tái xuất dưới một hình thức khác. Muốn thu hẹp bất bình đẳng, hệ thống phải đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục – chứ không chỉ điều chỉnh một loại điểm cộng.






