Việt Nam đối mặt bài toán vốn khí hậu khổng lồ
Nhu cầu vốn khí hậu của Việt Nam là tổng các nguồn tài chính cần thiết để thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu, giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh, bao gồm tín dụng xanh, trái phiếu xanh, thị trường carbon và các công cụ tài chính khí hậu khác gắn với mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Phát biểu tại hội thảo về chính sách tín dụng và thị trường carbon ngày 14/10, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh việc thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đòi hỏi nguồn lực rất lớn cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Điều này đặt ra câu hỏi không phải Việt Nam có muốn chuyển đổi xanh hay không, mà là chúng ta sẽ huy động vốn như thế nào và từ đâu.

Tín dụng xanh Việt Nam: tăng nhanh nhưng không đủ một mình
Tín dụng xanh Việt Nam đã có bước tiến đáng kể, nhưng nếu kỳ vọng ngân hàng gánh toàn bộ chi phí chuyển đổi xanh thì đó là ảo tưởng nguy hiểm. Từ khi triển khai năm 2017, tín dụng xanh đã mở rộng cả về quy mô và số lượng tổ chức tín dụng tham gia. Đến cuối tháng 6, dư nợ tín dụng xanh đạt hơn 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm trước – một con số ấn tượng nhưng vẫn chỉ là phần nhỏ so với nhu cầu vốn khí hậu dài hạn. Các ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng cho tài trợ xanh và tài trợ chuyển đổi, song chính ADB cũng thừa nhận hệ thống ngân hàng không thể tự đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn cho chuyển đổi năng lượng xanh và các dự án giảm phát thải. Nếu không nhanh chóng đa dạng hóa tài chính khí hậu, tín dụng xanh sẽ bị quá tải và rủi ro hệ thống sẽ tăng lên.

Thị trường carbon xanh: biến giảm phát thải thành dòng tiền
Điểm yếu lớn nhất của nhiều dự án xanh hiện nay là kết quả giảm phát thải chưa được chuyển thành giá trị kinh tế rõ ràng. Thị trường carbon xanh chính là công cụ để khắc phục khoảng trống này. Thông qua việc xác lập hạn ngạch, đo lường kết quả giảm phát thải và hình thành giá giao dịch đối với hạn ngạch, tín chỉ carbon, thị trường carbon tạo cơ chế biến mỗi tấn CO₂ cắt giảm thành doanh thu hoặc tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Theo chuyên gia ADB, tại các thị trường phát triển, thị trường carbon tạo động lực kinh tế để giảm phát thải, trong khi tín dụng cung cấp nguồn vốn để doanh nghiệp đầu tư. Việc vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon trong nước từ tháng 6 mới là bước khởi đầu; nếu không nhanh chóng hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa dữ liệu, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội tạo nguồn vốn mới từ chính nỗ lực giảm phát thải.

Kết hợp tín dụng xanh với thị trường carbon để mở khóa tài chính khí hậu
Điểm tích cực là các nhà hoạch định chính sách đã nhìn thấy mối quan hệ bổ trợ giữa tín dụng xanh và thị trường carbon, nhưng việc biến nhận thức thành cơ chế cụ thể vẫn diễn ra chậm. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước khẳng định tín dụng xanh cung cấp vốn cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, trong khi thị trường carbon hiệu quả giúp doanh nghiệp tạo nguồn thu từ kết quả giảm phát thải, cải thiện dòng tiền và khả năng trả nợ. Chuyên gia ADB nhấn mạnh hai công cụ này chỉ bổ trợ nhau một cách hiệu quả khi tổ chức tín dụng có năng lực đánh giá hoạt động xanh, dòng tiền từ tín chỉ carbon và khả năng trả nợ của từng dự án. Nói thẳng, nếu ngân hàng vẫn thẩm định theo cách cũ, coi tín chỉ carbon là yếu tố bên lề, thì thị trường carbon sẽ không thể trở thành nguồn vốn mới mà chỉ là sân chơi của một số ít doanh nghiệp tiên phong.

Hoàn thiện thể chế và phối hợp liên ngành: điều kiện để vốn xanh chảy mạnh
Vấn đề không nằm ở việc doanh nghiệp có muốn chuyển đổi xanh hay không – nhiều doanh nghiệp đã chứng minh họ sẵn sàng đầu tư công nghệ, sử dụng nhiên liệu sinh khối, năng lượng mặt trời và hệ thống xử lý chất thải hiện đại để giảm phát thải. Vấn đề là thể chế và phối hợp giữa các cơ quan quản lý có tạo được đường ống vốn đủ rộng và minh bạch hay không. Theo ADB, Việt Nam cần hoàn thiện thể chế song hành với phát triển thị trường carbon và tài chính xanh, đồng thời phân định rõ trách nhiệm soạn thảo, quản lý, giám sát và vận hành hệ thống, tăng cường phối hợp liên ngành và liên ngân hàng. Chất lượng chính sách và hiệu quả phối hợp sẽ quyết định quy mô, chi phí và khả năng tiếp cận vốn khí hậu. Nếu không dám cải cách mạnh tay, mục tiêu phát thải ròng bằng 0 sẽ chỉ là lời hứa đẹp trên diễn đàn quốc tế, còn dòng vốn xanh thì tiếp tục bị tắc nghẽn ngay trong nước.






