Nhân lực hạt nhân: Định nghĩa và lý do phải coi là ưu tiên chiến lược
Đào tạo nhân lực hạt nhân là quá trình xây dựng đội ngũ chuyên gia có kiến thức liên ngành, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực bảo đảm an toàn nhằm nghiên cứu, thiết kế, vận hành, giám sát và phát triển mọi ứng dụng của năng lượng nguyên tử trong nghiên cứu, y tế, công nghiệp, nông nghiệp và sản xuất điện, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, pháp lý và đạo đức khắt khe nhất của lĩnh vực hạt nhân. Điểm mấu chốt lúc này là: nếu Việt Nam không coi đào tạo nhân lực hạt nhân là ưu tiên, mọi tham vọng với lò phản ứng Đồng Nai, với điện hạt nhân và với y học hạt nhân sẽ dừng ở mức nhập khẩu công nghệ và thuê chuyên gia. Trong khi các dự án đang mở rộng nhanh, chúng ta lại đối mặt với thiếu hụt chuyên gia nguyên tử và sự lệ thuộc vào đào tạo ở nước ngoài – một con đường đã chứng minh là tốn kém mà hiệu quả giữ chân nhân lực còn rất thấp.

Từ bài học thất thoát nhân lực đến yêu cầu làm chủ đào tạo trong nước
Điều đáng lo không phải là Việt Nam chưa từng đầu tư cho đào tạo hạt nhân, mà là đầu tư nhưng không giữ được người. Việt Nam từng cử gần 1.000 cán bộ, sinh viên sang Nga và Nhật Bản học tập, nhưng đến nay chỉ khoảng 20% quay trở lại gắn bó với ngành. Con số đó là lời cảnh báo rõ ràng: dựa vào đào tạo ngoại quốc là lựa chọn rủi ro. Trong bối cảnh năng lượng nguyên tử đang mở rộng ứng dụng từ nghiên cứu sang y tế, công nghiệp, nông nghiệp và năng lượng, chiến lược tiếp tục “xuất khẩu” người học ra nước ngoài rồi hy vọng họ quay về là thiếu thực tế. Chúng ta đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho chương trình điện hạt nhân, trong đó phát triển nguồn nhân lực được chính các nhà quản lý coi là điều kiện mang tính quyết định. Nếu không nhanh chóng xây dựng năng lực tự đào tạo nhân lực hạt nhân trong nước, Việt Nam sẽ chậm chân trong cuộc cạnh tranh nguồn chuyên gia toàn cầu và khó làm chủ được công nghệ nguyên tử.
Lò phản ứng Đồng Nai: Áp lực hiện thực lên hệ sinh thái nhân lực
Dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân với lò phản ứng nghiên cứu mới tại Đồng Nai không chỉ là bước nhảy về năng lực kỹ thuật, mà là phép thử với toàn bộ hệ sinh thái nhân lực hạt nhân. Theo TS Trần Chí Thành, lò phản ứng mới dự kiến có công suất gấp khoảng 30 lần lò Đà Lạt, trong khi lò Đà Lạt công suất 0,5 MW hiện cung cấp khoảng 80% lượng dược chất phóng xạ cho các bệnh viện trên cả nước. Nói cách khác, lò phản ứng Đồng Nai sẽ đòi hỏi đội ngũ kỹ sư, chuyên gia vận hành, an toàn bức xạ và nhà nghiên cứu đông hơn, giỏi hơn, chịu trách nhiệm lớn hơn. Dự án này được kỳ vọng tạo bước chuyển về năng lực nghiên cứu, sản xuất đồng vị phóng xạ và cung cấp dược chất phục vụ chẩn đoán, điều trị ung thư, trực tiếp tác động tới người bệnh trên toàn quốc. Nếu nguồn nhân lực không kịp chuẩn bị, lợi ích xã hội từ lò phản ứng sẽ bị chậm lại hoặc phải bù bằng thuê chuyên gia ngoại, kéo dài phụ thuộc và tăng rủi ro vận hành.
Điện lực và mạng lưới hợp tác: Hình thành hệ sinh thái nhân lực hạt nhân
Thay vì đào tạo đơn lẻ, cách tiếp cận đang hình thành là kiến tạo một hệ sinh thái nhân lực hạt nhân với sự nối kết giữa cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Trường Đại học Điện lực thể hiện rõ vai trò này khi tổ chức Hội thảo khoa học “Đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển điện hạt nhân tại Việt Nam” ngày 6/10/2026 tại Hà Nội, với sự tham dự của đại diện các bộ, tập đoàn năng lượng và viện nghiên cứu lớn. Trường này cũng vừa gia nhập Mạng lưới Học viện Khoa học và Công nghệ Hạt nhân Quốc tế (INSTA), một sáng kiến giáo dục khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được hỗ trợ bởi Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Việc trở thành thành viên chính thức của INSTA mở ra cơ hội lớn để sinh viên tiếp cận trực tiếp các chương trình đào tạo chất lượng cao và trao đổi học thuật chuyên sâu, còn giảng viên tiếp cận học liệu phong phú và phương pháp giảng dạy tiên tiến. Nếu các trường trong nước đồng thời mở 1–2 khoa Công nghệ hạt nhân với chương trình đạt chuẩn quốc tế như đề xuất, mạng lưới này sẽ là nền tảng vững chắc cho đào tạo nhân lực hạt nhân ngay tại Việt Nam nhưng gắn với chuẩn toàn cầu.

Từ đào tạo liên ngành đến chiến lược dài hạn cho năng lượng nguyên tử
Điểm mạnh của cách tiếp cận mới là nhìn nhận đào tạo nhân lực hạt nhân như một quá trình liên ngành gắn chặt với thực tiễn dự án. Tại hội thảo, lãnh đạo Trường Đại học Điện lực nhấn mạnh kỹ sư điện hạt nhân không chỉ cần kiến thức cốt lõi về kỹ thuật hạt nhân mà còn phải có nền tảng vững về kỹ thuật điện, điều khiển – tự động hóa, cơ khí, vật liệu, xây dựng, công nghệ thông tin và năng lực quản lý, được kết nối với yêu cầu đặc thù của công trình và hoạt động hạt nhân. Song song, Chiến lược phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng đội ngũ khoảng 2.000 người, tăng lên 2.500 người vào năm 2035, và đề án nhân lực hướng tới việc 100% nhân lực quản lý, hỗ trợ kỹ thuật và nhân viên bức xạ được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân. Rõ ràng, Việt Nam đang lựa chọn đi trước một bước về con người: đầu tư bài bản cho đào tạo nhân lực hạt nhân, chuẩn hóa năng lực từ quản lý đến kỹ thuật, để khi chương trình điện hạt nhân được triển khai, chúng ta có đội ngũ đủ sức làm chủ công nghệ, vận hành an toàn và tiếp tục phát triển năng lượng nguyên tử Việt Nam trên đôi chân của chính mình.







