Dự án mở rộng Quốc lộ 2: mặt bằng sạch không đồng nghĩa với tiến độ nhanh
Dự án cải tạo, mở rộng Quốc lộ 2 đoạn Việt Trì - Vĩnh Yên tại Phú Thọ là một dự án giao thông trọng điểm dài khoảng 11,06 km, hướng tới nâng cao năng lực kết nối, giảm ùn tắc và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực trung du, trong đó giải phóng mặt bằng đã đạt tới hơn 99% nhưng tiến độ thi công thực tế vẫn chậm so với kỳ vọng. Ngày 24/9, đoàn công tác Bộ Xây dựng do Bộ trưởng Trần Hồng Minh dẫn đầu đã phải trực tiếp xuống hiện trường kiểm tra tiến độ, cho thấy mức độ quan tâm và cả sự sốt ruột trước tình trạng “hành lang pháp lý đi trước, máy xúc đi sau”. Khi một dự án giao thông như Quốc lộ 2 Phú Thọ đã hoàn tất gần như toàn bộ công tác giải phóng mặt bằng mà mặt đường vẫn lở dở, câu hỏi không chỉ nằm ở người dân, mà nằm ở năng lực tổ chức thi công và điều hành của chủ đầu tư, nhà thầu.
99,91% giải phóng mặt bằng nhưng mặt bằng vẫn không liền mạch
Các con số nghe rất đẹp: phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng đã được phê duyệt trên 44,47/44,51 ha, tương đương 99,91%, và diện tích bàn giao cho chủ đầu tư đạt 96,94% diện tích cần thu hồi. Đây là tỷ lệ mà nhiều dự án giao thông mơ ước, phản ánh nỗ lực lớn của tỉnh trong công tác giải phóng mặt bằng. Tuy vậy, câu chuyện thực tế lại không suôn sẻ như số liệu. Mặt bằng bàn giao chưa liền mạch, một số hộ dân dù đã nhận tiền bồi thường vẫn chưa tháo dỡ, di dời tài sản, trong khi nhiều hạ tầng kỹ thuật như cột điện, đường nước sạch, cáp viễn thông vẫn còn nằm trên đường thi công. Hệ quả là các nhà thầu mới tiếp cận thi công được khoảng 9/11,06 km, tức chỉ hơn 81% chiều dài tuyến. Đây là minh chứng rõ ràng: giải phóng mặt bằng không chỉ là phê duyệt phương án và chi trả tiền, mà phải là mặt bằng sạch, liên tục, có thể thi công ngay.
Tiến độ dự án giao thông và điểm nghẽn thi công trên Quốc lộ 2 Phú Thọ
Dù nhiều đoạn đã có mặt bằng, tiến độ thi công vẫn không tương xứng với kỳ vọng. Bộ trưởng Trần Hồng Minh đánh giá khối lượng thi công chính trên công trường chưa đáp ứng yêu cầu, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp. Nền đường và hệ thống cống là những hạng mục được triển khai rõ nét, nhưng các mũi thi công cầu gần như chưa có chuyển biến. Một số đoạn chưa tổ chức thi công tương xứng với phần mặt bằng đã bàn giao, cho thấy sự lệch pha giữa công tác hành chính và năng lực thực hiện của nhà thầu. Việc phối hợp giữa chủ đầu tư, đơn vị thi công, các đơn vị quản lý hạ tầng kỹ thuật và chính quyền địa phương bị đánh giá là "có lúc chưa đồng bộ", dẫn tới điểm nghẽn trong tổ chức thi công đồng loạt. Trong một dự án mở rộng đường Việt Trì – Vĩnh Yên, đây là điểm yếu mang tính hệ thống: chúng ta đã biết chuẩn bị hồ sơ, nhưng chưa biết triển khai như một dây chuyền.
Yêu cầu thi công “3 ca, 4 kíp”: liệu có đủ để bù đắp sự chậm trễ?
Trước tiến độ ì ạch, Bộ Xây dựng buộc phải dùng đến những yêu cầu rất mạnh: huy động tối đa nhân lực, thiết bị, vật tư, tăng ca, tăng kíp và đặc biệt là tổ chức thi công "3 ca, 4 kíp" trên các đoạn đã có mặt bằng. Bộ trưởng nhấn mạnh nguyên tắc "không đánh đổi tiến độ bằng chất lượng", nhưng việc phải yêu cầu cập nhật tiến độ, hình ảnh thi công định kỳ hai ngày một lần cho thấy niềm tin với nhà thầu không còn tuyệt đối. Song, nếu chỉ đẩy mạnh thi công mà không xử lý triệt để các đoạn đứt gãy mặt bằng, các vị trí vướng hạ tầng kỹ thuật, thì "3 ca, 4 kíp" cũng chỉ là làm nhanh trên phần việc còn lại. Điều đáng nói hơn là cơ chế chịu trách nhiệm: nhà thầu chậm tiến độ bị xem xét đưa vào danh sách cảnh báo toàn quốc. Chính sức ép này mới có khả năng buộc hệ thống thi công phải thay đổi, thay vì chỉ hô khẩu hiệu.
Độ trễ trên tuyến Việt Trì - Vĩnh Yên và cái giá phải trả cho kết nối vùng
Quốc lộ 2 qua Phú Thọ là tuyến có lưu lượng phương tiện lớn, đi qua nhiều khu dân cư, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh. Khi dự án mở rộng bị chậm, người dân dọc tuyến phải sống cùng công trường kéo dài: bụi, tiếng ồn, rào chắn, nguy cơ mất an toàn giao thông. Hàng hóa qua khu vực chịu ảnh hưởng vì tắc nghẽn, khi năng lực thông hành chưa được cải thiện mà lại bị chia cắt bởi các đoạn thi công dang dở. Trong khi đó, lợi ích dài hạn của dự án là rất rõ: khi hoàn thành, Quốc lộ 2 đoạn Vĩnh Yên - Việt Trì được kỳ vọng nâng cao năng lực kết nối giao thông, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa và tạo thêm dư địa phát triển kinh tế – xã hội cho Phú Thọ. Cái giá của chậm tiến độ vì thế không chỉ là những biên bản nhắc nhở, mà là cơ hội phát triển của cả vùng trung du bị kéo lùi. Muốn tránh lặp lại, tư duy quản lý dự án phải dịch chuyển từ "hoàn thành thủ tục" sang "hoàn thành đoạn tuyến" – đo bằng những km đường bê tông hóa, chứ không phải bằng phần trăm hồ sơ được phê duyệt.






