Cầu vượt biển Việt Nam: Từ ý tưởng giao thông đến chiến lược du lịch
Cầu vượt biển Việt Nam là các công trình hạ tầng giao thông biển nối liền đất liền, bán đảo hoặc những hòn đảo bằng đường bộ cố định, thay thế việc phụ thuộc vào tàu, đò và qua đó rút ngắn thời gian di chuyển, mở rộng không gian phát triển đô thị, dịch vụ, cũng như tạo động lực phát triển du lịch biển bền vững. Ổn định, linh hoạt và phục vụ đồng thời người dân địa phương lẫn du khách, cầu vượt biển đang dần trở thành lựa chọn chiến lược thay thế cho mô hình cáp treo thuần du lịch. Điều đáng nói, mỗi cây cầu mới không chỉ là một tuyến giao thông, mà là một tuyên bố về ưu tiên phát triển dài hạn: đặt sinh kế cư dân, an toàn di chuyển và tương lai phát triển du lịch biển lên cùng một bàn cân.

Cầu Cô Tô – Thanh Lân: 2.000 tỷ đồng để kết nối một "viên ngọc ẩn"
Quyết định xây cầu vượt biển nối Cô Tô lớn với Thanh Lân cho thấy tư duy ưu tiên cầu bộ thay vì cáp treo phục vụ đơn thuần mục đích tham quan. UBND đặc khu Cô Tô đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án cầu với tổng mức 1.991,653 tỷ đồng, toàn tuyến dài khoảng 2,855 km, trong đó phần cầu vượt biển vào khoảng 2,3 km. Theo kế hoạch, dự án được chuẩn bị trong năm 2026 và triển khai từ 2027 đến 2029. Khi hoàn thành, hành trình giữa hai đảo vốn phụ thuộc tàu, đò, mất chừng 20 phút và bị chi phối mạnh bởi sóng gió sẽ được thay bằng kết nối đường bộ ổn định hơn. "Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, cầu Cô Tô – Thanh Lân là công trình ưu tiên giai đoạn 2027-2029". Điều này cho thấy địa phương coi hạ tầng giao thông biển là nền tảng bắt buộc trước khi mơ đến những sản phẩm du lịch cao cấp.
Khi cầu mở ra, lợi ích không dừng ở câu chuyện lượng khách du lịch. Khoảng 1.600 cư dân Thanh Lân sẽ tiếp cận thuận tiện hơn với y tế, giáo dục, văn hóa, hành chính và các dịch vụ thiết yếu tập trung tại Cô Tô lớn. Cô Tô hiện đã là trung tâm dịch vụ với bãi Hồng Vàn, Vàn Chảy, hải đăng, trải nghiệm thể thao biển và hệ sinh thái dịch vụ số phục vụ hàng trăm nghìn lượt khách mỗi năm. Ngược lại, Thanh Lân được giới thiệu như một "viên ngọc ẩn vùng Đông Bắc" với hơn 70% diện tích được rừng tự nhiên che phủ. Việc kết nối hòn đảo này bằng cầu giúp du khách dễ dàng kết hợp nghỉ dưỡng biển sôi động ở Cô Tô với trải nghiệm trekking rừng, lặn biển và đời sống ngư dân trên Thanh Lân. Ở tầm nhìn dài hạn, cây cầu biến hai đảo thành một tổ hợp du lịch biển – rừng có tính bổ trợ hiếm thấy.
Cầu treo dây võng Thuận Phước: Biểu tượng hạ tầng giao thông biển Đà Nẵng
Nếu cầu Cô Tô – Thanh Lân còn nằm trên giấy thì cầu treo dây võng Thuận Phước ở Đà Nẵng là minh chứng sống động cho sức bật hạ tầng giao thông biển đối với một thành phố du lịch. Nằm ở cửa sông Hàn, cầu Thuận Phước có chiều dài khoảng 1.856 m, rộng 18 m, với vốn đầu tư vào khoảng 1.000 tỷ đồng và thời gian xây dựng kéo dài tới 6 năm. Điểm nhấn của dự án cầu treo dây võng này là kết cấu dây võng với nhịp chính khẩu độ khoảng 405 m và phần dây võng dài chừng 655 m, được xác định là lớn nhất Việt Nam. Công trình được khởi công năm 2003 và đưa vào khai thác năm 2009, trở thành một trong những biểu tượng nhận diện của Đà Nẵng trên các hình ảnh quảng bá. "Cư dân địa phương trìu mến gọi cầu Thuận Phước là dải lụa nối đôi bờ sông Hàn" – một hình ảnh cho thấy hạ tầng giao thông cũng có thể mang giá trị cảm xúc.
Không giống những cầu nội đô chỉ giải bài toán kẹt xe, Thuận Phước bắc qua khu vực cửa sông Hàn, kết nối trung tâm Đà Nẵng với bán đảo Sơn Trà và tuyến đường ven biển phía Bắc. Nơi sông Hàn đổ ra vịnh Đà Nẵng tạo nên điểm giao thoa độc đáo giữa đô thị, sông nước và biển, khiến cây cầu trở thành không gian ngắm cảnh lẫn tuyến giao thông quan trọng. Việc xây dựng cầu tại cửa biển đặt ra nhiều yêu cầu kỹ thuật về gió, dòng chảy, thời tiết, nhưng chính lựa chọn khó này giúp Đà Nẵng mở rộng không gian phát triển về phía Đông Bắc. Trong nhiều năm, sự kết hợp giữa loạt cầu như Sông Hàn, Rồng, Trần Thị Lý và Thuận Phước cùng hệ thống đường ven biển đã tạo nên cấu trúc đô thị xoay mặt ra biển. Hạ tầng không chỉ đi sau mà dẫn dắt chiến lược phát triển du lịch biển, biến Đà Nẵng thành điểm đến gắn chặt với hình ảnh những cây cầu.
Từ kết nối hòn đảo đến chiến lược phát triển du lịch biển bền vững
Điểm chung của cầu Cô Tô – Thanh Lân và cầu Thuận Phước là cách chúng biến hạ tầng giao thông biển thành nền tảng cho mô hình phát triển du lịch biển mới. Với Cô Tô, quyết định không làm cáp treo vì chi phí cao, thiên về du lịch và không phù hợp nhu cầu di chuyển thường xuyên của người dân đã mở đường cho phương án cầu, nơi lợi ích cư dân và du khách được dung hòa. Với Đà Nẵng, đầu tư một dự án cầu treo dây võng quy mô lớn tại cửa biển không chỉ thêm một tuyến xe cộ, mà còn gắn kết trung tâm đô thị, tuyến ven biển và bán đảo Sơn Trà – vùng tài nguyên cảnh quan hàng đầu của thành phố. Các dự án này cho thấy nếu muốn phát triển du lịch biển lâu dài, chính quyền phải coi kết nối hòn đảo, bán đảo và dải bờ biển bằng cầu bộ, đường ven biển là hạ tầng chiến lược, không phải phụ trợ.
Trong bối cảnh nhiều địa phương săn đón du khách bằng các sản phẩm nhanh như cáp treo, công viên giải trí, những cây cầu vượt biển có thể chưa tạo hiệu ứng ồn ào ngay lập tức. Nhưng về dài hạn, chúng mở ra một trục phát triển mới: dễ dàng kết nối các "viên ngọc thô" còn nguyên sơ với các trung tâm dịch vụ, giúp phân tán dòng khách, giảm áp lực lên những bãi biển đã quá tải và tạo điều kiện để mô hình du lịch trải nghiệm, sinh thái, cộng đồng phát triển. Khi người dân đảo được đi lại an toàn, ổn định quanh năm, du lịch biển cũng bớt tính mùa vụ, doanh nghiệp dám đầu tư lâu dài hơn. Đó là lý do cầu vượt biển Việt Nam cần được nhìn như khoản đầu tư vào tương lai – chậm nhưng bền, ít phô trương nhưng tái định hình toàn bộ cách chúng ta làm du lịch biển.






