Đổi mới dạy tiếng Anh: từ điểm số đến năng lực giao tiếp
Đổi mới dạy tiếng Anh trong trường phổ thông là quá trình chuyển từ mô hình dạy học nặng về ngữ pháp và thi cử sang phát triển đủ bốn kỹ năng, tạo môi trường tiếng Anh đa dạng để học sinh luyện nghe, nói, đọc, viết, sử dụng công nghệ và phương pháp hiện đại, qua đó hình thành năng lực giao tiếp tiếng Anh học sinh một cách tự tin và bền vững.
Điểm đáng chú ý là nhiều trường đã ngừng coi tiếng Anh chỉ là môn để lấy điểm cao mà xem đó là công cụ hội nhập. Tại Thanh Hóa, Trường Tiểu học và THCS Trần Mai Ninh chuyển hướng dạy học từ ghi nhớ sang phát triển đồng bộ 4 kỹ năng, gắn kết quả học tập với khả năng sử dụng ngôn ngữ. Cùng lúc, chính sách giáo dục ở địa phương nhấn mạnh đổi mới dạy tiếng Anh và nâng chất lượng đầu ra, đồng thời đưa chuyển đổi số, ứng dụng AI vào thực tế lớp học, mở thêm cơ hội cho học sinh sử dụng tiếng Anh hiệu quả. Cách tiếp cận này không trung lập: nếu vẫn giữ lối dạy cũ, mọi mục tiêu "tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai" sẽ chỉ dừng ở khẩu hiệu.
Theo quan điểm của nhiều nhà trường, muốn tiếng Anh thành công cụ thật sự, mọi thiết kế chương trình, kiểm tra đánh giá và hoạt động ngoại khóa phải cùng hướng tới năng lực giao tiếp, thay vì chia nhỏ thành tích thi cử, chứng chỉ. Điều đó đặt ra sức ép thay đổi nhưng cũng tạo cơ hội rõ ràng: trường nào dám phá khuôn mẫu cũ sẽ đi trước trong việc tạo nền tảng hội nhập cho học sinh.

Thanh Hóa: xây môi trường tiếng Anh gắn với thành tích bền vững
Thanh Hóa cho thấy một thực tế: chất lượng mũi nhọn và môi trường tiếng Anh có thể song hành nếu trường dám tái thiết kế mục tiêu. Ở Trần Mai Ninh, 100% học sinh tham gia các kỳ thi học sinh giỏi tiếng Anh cấp thành phố/phường và cấp tỉnh đều đạt giải, trong đó có nhiều giải Nhất, đồng thời hơn 130 học sinh trúng tuyển vào THPT chuyên Lam Sơn, 28 em vào các lớp chuyên Anh. Đây là số liệu biết nói: thành tích vẫn giữ vững khi nhà trường chuyển trọng tâm sang năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Nhà trường không dừng ở con số đầu ra. Họ tổ chức khảo sát định kỳ cho lớp 9 theo cấu trúc đề thi vào lớp 10 và chuyên Lam Sơn để nhận diện điểm yếu, từ đó điều chỉnh việc dạy và phụ đạo học sinh hạn chế. Mục tiêu dài hạn là đánh giá đầu ra theo chuẩn tương đương B1, khoảng 4.5–5.5 IELTS, rồi từng bước hướng học sinh đến các chuẩn quốc tế như Cambridge KET, PET và làm quen với yêu cầu của IELTS. Đây là lựa chọn mang tính chiến lược chứ không phải phong trào: đặt chuẩn rõ ràng buộc giáo viên và học sinh phải nhìn tiếng Anh dưới lăng kính sử dụng thực tế.
Một điểm sáng là sự đầu tư vào môi trường tiếng Anh trong trường. Trần Mai Ninh xây phòng học tiếng Anh hiện đại, dùng công cụ công nghệ và AI để hỗ trợ soạn giảng, bài tập trực tuyến, luyện ngữ âm và cá nhân hóa học cho từng nhóm học sinh. Trong khi đó, Trường THCS Đông Thọ tập trung tạo môi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên thông qua câu lạc bộ, trò chơi, thuyết trình, giao tiếp và sân chơi theo chủ đề. Khi học sinh được nói, được sai rồi sửa trong ngữ cảnh gần với đời sống, nỗi sợ tiếng Anh giảm đi và sự tự tin tăng lên – đây mới là nền tảng thật cho hội nhập.

Gia Lai: mở rộng môi trường tiếng Anh từ lớp học đến sân trường
Trong bức tranh đổi mới dạy tiếng Anh, các trường ở Gia Lai cho thấy cách làm linh hoạt khi điều kiện còn hạn chế. Trường THPT Nguyễn Diêu tại một xã nông thôn triển khai tạo môi trường sử dụng tiếng Anh từ đổi mới phương pháp trong tiết học đến mở rộng cơ hội thực hành ngoài giờ chính khóa, khuyến khích học sinh dùng tiếng Anh trong những tình huống đơn giản. Tổ Tiếng Anh nghiên cứu bài học, xây dựng chuyên đề phát triển năng lực giao tiếp và tư duy bằng tiếng Anh, chia sẻ học liệu và ứng dụng công nghệ để bài học gắn với thực tế. Cách tiếp cận "đi từng bước" này là lựa chọn tỉnh táo với một trường còn thiếu thiết bị: họ chấp nhận đường dài để tiến tới mục tiêu tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai.
Ở bậc tiểu học, Trường Tiểu học Kon Dơng số 1 tạo môi trường tiếng Anh qua sinh hoạt, giao lưu, hội thi, giúp 774 học sinh rèn kỹ năng nghe, nói bên cạnh các tiết chính khóa. Hiệu trưởng Phạm Thị Tuyết nhấn mạnh các hoạt động phải phù hợp lứa tuổi, cho học sinh dùng câu giao tiếp đơn giản để hình thành phản xạ và hứng thú với tiếng Anh. Thay vì ép từ vựng khó, nhà trường ưu tiên thói quen "dám nói" – một lựa chọn mang tính nhân văn với trẻ nhỏ, đồng thời hiệu quả hơn trong dài hạn.
Bối cảnh chung cho những nỗ lực này là yêu cầu mở rộng môi trường sử dụng ngoại ngữ trong năm học 2026–2027, sau khi UBND tỉnh ban hành chỉ thị yêu cầu tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Không chờ đợi thêm, nhiều cơ sở giáo dục đã cụ thể hóa nhiệm vụ bằng mô hình câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm song ngữ, lớp học thiếu nhi ở làng, v.v. Những cách làm này cho thấy nếu chỉ trông vào 3–4 tiết/tuần, mọi tham vọng về giao tiếp tiếng Anh học sinh sẽ khó thành hiện thực; môi trường mới là yếu tố quyết định.

Đắk Lắk: năng lực giáo viên tiếng Anh là điểm xuất phát của dạy song ngữ
Nếu Thanh Hóa và Gia Lai nhấn mạnh môi trường tiếng Anh cho học sinh, thì Đắk Lắk lại cho thấy một bài học khác: phải bắt đầu từ năng lực giáo viên tiếng Anh và giáo viên bộ môn dạy song ngữ. Tại một trường phổ thông, giáo viên nước ngoài sử dụng mô hình gỗ, hình ảnh và vật dụng quen thuộc để dạy kiến thức Toán bằng tiếng Anh, giúp học sinh vừa thực hành nội dung môn học vừa làm theo hướng dẫn ngoại ngữ. Thực tế cho thấy học sinh thường nắm khái niệm và phép tính ổn, nhưng khó ở chỗ hiểu yêu cầu bài tập, diễn giải tư duy và kết quả bằng tiếng Anh.
Điều đó đặt ra yêu cầu mới cho giáo viên Việt Nam: không chỉ biết thuật ngữ chuyên ngành mà phải có khả năng diễn đạt, chọn học liệu, kiểm tra mức độ hiểu bài bằng tiếng Anh. Một giáo viên Toán kiêm trợ giảng thừa nhận rào cản lớn nhất không phải kiến thức chuyên môn mà là ngôn ngữ, nên cần được bồi dưỡng tiếng Anh chuyên ngành và tiếng Anh giao tiếp. Quan điểm này thẳng thắn: nếu người đứng lớp không vững ngoại ngữ, mọi nỗ lực đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai sẽ bị chặn ngay trong phòng học.
Hiện trường này có 22 giáo viên hoàn thành chương trình đào tạo giảng dạy song ngữ, nhưng các nhà quản lý vẫn coi đây mới là bước đầu. Một trường chuyên khác đã rà soát văn bằng, chứng chỉ của 89 cán bộ, giáo viên, ghi nhận 37 người – khoảng 42% – đạt trình độ tiếng Anh từ bậc 3 trở lên. Nội dung bồi dưỡng được xây dựng gồm tiếng Anh tổng quát, thuật ngữ và cách diễn đạt chuyên ngành, ngôn ngữ giao tiếp trong lớp học và phương pháp tích hợp nội dung với ngôn ngữ. Quan trọng hơn, hiệu quả bồi dưỡng phải thể hiện qua khả năng đứng lớp và mức độ tham gia của học sinh. Nghĩa là, mọi khóa học cho giáo viên phải được đo bằng thực hành, không bằng chứng chỉ treo tường.

Từ sáng kiến địa phương tới mô hình chung cho dạy tiếng Anh
Nhìn tổng thể, các sáng kiến ở Thanh Hóa, Gia Lai, Đắk Lắk đang cùng trả lời một câu hỏi: làm thế nào để tiếng Anh đi từ sách vở vào đời sống học đường. Ở Thanh Hóa, việc ứng dụng công nghệ, AI trong dạy học và xây dựng phòng chức năng ngoại ngữ thông minh với màn hình tương tác, tai nghe chuyên dụng được dùng để tăng cơ hội thực hành; tiếng Anh còn được đưa vào Ngày hội STEM, chương trình tri ân thầy cô, hội thao và ngoại khóa. Ở Gia Lai, nhà trường dùng câu lạc bộ, hội thi, trải nghiệm song ngữ để mở rộng môi trường; những cách làm linh hoạt được đánh giá là giúp việc học gắn với thực tế, từng bước hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học.
Điểm chung xuyên suốt là nhận thức: môi trường tiếng Anh và năng lực giáo viên tiếng Anh là hai trụ cột không thể tách rời. Các cơ sở giáo dục đang tiếp tục triển khai nhiệm vụ tăng cường dạy và học ngoại ngữ trong năm học 2026–2027, với nhiều kế hoạch cụ thể hóa để học sinh có thêm thời gian và không gian thực hành. Ở cấp trường, mục tiêu đầu ra theo chuẩn B1, lộ trình tiếp cận Cambridge và IELTS, cùng kế hoạch đầu tư phòng chức năng, hoạt động song ngữ, cho thấy đây không còn là các phong trào ngắn hạn.
Điều còn thiếu là sự chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương để biến sáng kiến rời rạc thành mô hình có thể nhân rộng. Các trường đã chứng minh: khi thay đổi cách dạy, đầu tư vào công nghệ, môi trường và bồi dưỡng giáo viên, giao tiếp tiếng Anh học sinh cải thiện rõ; các em bớt sợ sai, dám nói nhiều hơn. Nếu chính sách cấp trên coi những nỗ lực ấy là dữ liệu thật để điều chỉnh chương trình quốc gia, Việt Nam sẽ tiến nhanh hơn tới mục tiêu tiếng Anh là ngôn ngữ sử dụng tự nhiên trong trường học – bắt đầu từ những tiết học và sân trường đang đổi mới hôm nay.







