Từ môn học đến phương tiện giao tiếp
Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là cách tổ chức dạy học, hoạt động giáo dục và giao tiếp để học sinh có cơ hội sử dụng tiếng Anh thường xuyên, thay vì chỉ học kiến thức trong một tiết riêng. Đây là thay đổi về môi trường học tập, không phải phép đổi tên môn học. Trong bối cảnh hội nhập và tri thức ngày càng lưu chuyển qua công nghệ, tiếng Anh có thể giúp học sinh tiếp cận tài liệu, diễn đạt ý tưởng và mở rộng lựa chọn học tập. Nhưng lợi ích ấy chỉ đến khi các em được thực hành đều đặn, trong những tình huống phù hợp với tuổi và năng lực. Vì vậy, hướng đi đáng ủng hộ không phải ép mọi trường dạy thật nhiều nội dung bằng tiếng Anh ngay lập tức, mà là xây dựng môi trường tiếng Anh có lộ trình, bắt đầu từ hoạt động gần gũi và có thể duy trì.
TPHCM đã phê duyệt đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045; từ năm học 2026-2027, mỗi cụm chuyên môn dự kiến chọn 1-2 cơ sở giáo dục thí điểm để kiểm chứng tiêu chí, chương trình và học liệu. Cách làm này hợp lý hơn việc nhân rộng đồng loạt: trường thí điểm có thể cho thấy điều gì khả thi, điều gì cần điều chỉnh trước khi mở rộng.
Thí điểm phải tạo cơ hội dùng tiếng Anh thật
Ở Hà Nội, Trường Tiểu học Tân Định là một trong ba trường được chọn triển khai mô hình trường cơ bản, đại trà ở mức độ 1. Nhà trường tổ chức chuyên đề xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh, trong đó đại biểu tham quan không gian giáo dục, dự giờ và trao đổi về phương pháp phát triển năng lực giao tiếp, tăng sự chủ động của học sinh. Giá trị của một mô hình như vậy không nằm ở buổi chuyên đề hay danh hiệu thí điểm, mà ở việc kinh nghiệm được chuyển thành thực hành lặp lại trong ngày học. Tiếng Anh cần hiện diện trong giao tiếp và hoạt động giáo dục phù hợp lứa tuổi, chứ không chỉ xuất hiện khi giáo viên mở sách. Đây cũng là cơ hội để các trường khác tham khảo cách làm, nhưng nên chọn giải pháp tương thích với điều kiện của mình thay vì sao chép nguyên mẫu.
Kế hoạch của TPHCM đặt mốc sơ kết vào cuối năm học 2027-2028 để điều chỉnh trước khi nhân rộng. Thành phố hướng tới ít nhất 15% cơ sở giáo dục dạy một số môn bằng tiếng Anh trong năm học 2027-2028; đến năm học 2029-2030, mục tiêu là ít nhất 30% dạy môn học bằng tiếng Anh và 40% xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh. Những con số này chỉ có ý nghĩa nếu đi cùng đánh giá chất lượng và mức độ tham gia thực tế của học sinh.
Hải Phòng đưa tiếng Anh ra khỏi tiết học
Tại Hải Phòng, nhiều trường THCS đổi mới phương pháp và đa dạng hoạt động giáo dục để học sinh có nơi thực hành ngoại ngữ. Trường THCS Tô Hiệu vừa ra mắt câu lạc bộ tiếng Anh; Trường THCS An Dương tổ chức câu lạc bộ Toán và Khoa học Tự nhiên bằng tiếng Anh, kết hợp bài toán, thuật ngữ chuyên môn và hoạt động thực hành. Tranh biện, trò chơi, giải đố, video theo chủ đề và những câu giao tiếp ngắn trong sinh hoạt hằng ngày giúp các em dùng tiếng Anh với mục đích cụ thể. Cách tiếp cận này thuyết phục hơn việc tăng bài tập mà thiếu cơ hội nói: học sinh có thể trình bày quan điểm, phản hồi và bảo vệ lập luận, qua đó rèn diễn đạt, tư duy phản biện và sự tự tin. Việc khuyến khích tiến bộ thay vì chăm chăm bắt lỗi cũng giúp giảm tâm lý ngại nói.
Mỗi khối dự kiến có khoảng ba buổi sinh hoạt trong một học kỳ, với nội dung điều chỉnh theo mức độ tham gia, khả năng thực hiện và tiến bộ của học sinh. Đây là nguyên tắc đáng lưu ý: môi trường tiếng Anh không cần bắt đầu bằng hoạt động lớn, mà cần đủ đều đặn để trẻ có cơ hội thử, mắc lỗi và dùng lại ngôn ngữ trong tình huống mới. Câu lạc bộ cũng không nên là hoạt động bên lề chỉ dành cho nhóm học sinh tự tin; thiết kế linh hoạt sẽ giúp nhiều em cùng tham gia.

Năng lực giáo viên và cộng đồng quyết định độ bền
Không thể xây dựng tiếng Anh trường học chỉ bằng chỉ tiêu. Kế hoạch của TPHCM thừa nhận đội ngũ giáo viên tiếng Anh và giáo viên dạy môn khác bằng tiếng Anh còn thiếu, chất lượng chưa đồng đều; giáo viên được phân công dạy bằng tiếng Anh cần đạt năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 4 ở tiểu học và THCS, bậc 5 ở THPT cùng một số bậc học tương ứng. Điều đó đòi hỏi bồi dưỡng thực chất, thời gian chuẩn bị học liệu và phân công phù hợp, thay vì giao thêm nhiệm vụ mà không hỗ trợ. Kinh nghiệm từ giáo dục mầm non TPHCM cũng cho thấy trình độ tiếng Anh giữa giáo viên còn chênh lệch, một số trường gặp khó khăn về nhân lực và có nơi phải phối hợp với trung tâm ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu trước mắt.
Gia đình và cộng đồng cũng cần được xem là một phần của môi trường học tập: phụ huynh cần hiểu mục tiêu, còn trường phải có cách tham gia phù hợp với điều kiện thực tế và tự nguyện của người học. Thí điểm tiếng Anh vì thế nên được đánh giá không chỉ bằng số trường tham gia, mà bằng việc học sinh có thêm cơ hội sử dụng ngôn ngữ, giáo viên có đủ năng lực hỗ trợ và hoạt động có thể duy trì hay không. Kết luận rất rõ: muốn tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, cần đưa nó vào đời sống học đường từng bước, có đầu tư cho con người và sự đồng hành của cộng đồng. Mở rộng nhanh mà thiếu các nền tảng ấy sẽ biến mục tiêu thành khẩu hiệu; làm chắc từ điều kiện sẵn có mới tạo ra thay đổi bền vững.







