Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Luật Điện gió ngoài khơi: chiếc khóa mở thị trường 6-10 GW

Luật Điện gió ngoài khơi: chiếc khóa mở thị trường 6-10 GW
Sở thích|Đông Nam Á

Điện gió ngoài khơi: từ tiềm năng tài nguyên đến bài toán thể chế

Điện gió ngoài khơi Việt Nam là hoạt động phát điện bằng tuabin đặt trên biển, khai thác nguồn gió ổn định, công suất lớn, đồng thời gắn với quy hoạch không gian biển, hạ tầng cảng và hệ sinh thái công nghiệp biển để tạo ra nguồn năng lượng tái tạo biển phục vụ phát triển kinh tế dài hạn. Việt Nam đang được đánh giá sở hữu tiềm năng kỹ thuật hàng triệu MW từ điện gió, điện mặt trời và các nguồn năng lượng tái tạo khác. Chỉ riêng điện gió trên bờ và gần bờ đã khoảng 221.000 MW, điện gió ngoài khơi khoảng 165.000 MW, còn điện mặt trời lên tới 914.000 MW. Trong khi tổng công suất năng lượng tái tạo cùng thủy điện vừa và lớn đã đạt 43.126 MW, chiếm 55,2% hệ thống điện, chúng ta vẫn thiếu một luật điện gió ngoài khơi để biến lợi thế tài nguyên thành dự án cụ thể. Việc chậm hoàn thiện khung pháp lý đồng nghĩa với đánh rơi cơ hội thiết lập vị thế trong chuỗi giá trị năng lượng tái tạo biển khu vực.

Luật Điện gió ngoài khơi: chiếc khóa mở thị trường 6-10 GW

Nghị quyết 20-NQ/TW: điện gió ngoài khơi bước vào chiến lược quốc gia biển

Điểm ngoặt nằm ở Nghị quyết 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026, khi điện gió ngoài khơi được đặt trong tổng thể chiến lược quốc gia biển. Nghị quyết xác định phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới để xây dựng nền kinh tế biển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển các dự án điện gió ngoài khơi với tổng công suất 6-10 GW, đồng thời yêu cầu hoàn thiện quy hoạch, cơ chế, chính sách cho điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển và các loại hình năng lượng tái tạo biển khác, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ đối với nhà đầu tư nước ngoài tham gia các dự án quy mô lớn. Câu hỏi không còn là Việt Nam bổ sung được bao nhiêu MW, mà là tạo dựng được những năng lực công nghiệp nào từ thị trường 6-10 GW này. Nếu coi đây là “thị trường khởi đầu của một ngành công nghiệp mới”, thì luật điện gió ngoài khơi phải được thiết kế theo tư duy hệ sinh thái công nghiệp biển, chứ không chỉ là một bộ quy định cho vài dự án phát điện.

Khoảng cách giữa tiềm năng 600 GW và mục tiêu 6-10 GW: thiếu luật, thiếu không gian phát triển

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đánh giá tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam khoảng 600 GW – một con số cho thấy tài nguyên không phải điểm nghẽn. Vấn đề nằm ở chỗ biến một phần tiềm năng này thành các dự án khả thi về pháp lý, tài chính và kỹ thuật. Điện gió ngoài khơi có chu kỳ phát triển dài, vốn đầu tư lớn và bị chi phối bởi khảo sát tài nguyên, địa chất, môi trường, không gian biển, hàng hải, quốc phòng – an ninh, đầu tư, tài chính và tiêu thụ điện. TS. Mai Duy Thiện nhấn mạnh Việt Nam cần sớm hoàn thiện và phê duyệt Quy hoạch điện VIII, đồng thời xây dựng đầy đủ các chiến lược, quy hoạch liên quan đến phát triển năng lượng. TS. Dư Văn Toán đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Điện gió ngoài khơi, đi kèm hệ thống nghị định, thông tư, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho lĩnh vực này. Không có luật, nhà đầu tư phải tự xoay sở trong một ma trận giấy phép, xung đột không gian và thiếu dữ liệu khảo sát; kết quả là mục tiêu 6-10 GW đến 2030 trở thành thách thức hơn là động lực.

Hệ sinh thái công nghiệp biển: điều kiện tiên quyết cho luật điện gió ngoài khơi có hiệu lực

Nghị quyết 20 đã đặt điện gió ngoài khơi vào mối quan hệ với không gian biển, công nghiệp đóng tàu, hạ tầng cảng, logistics, khoa học – công nghệ và các ngành kinh tế biển mới. Nếu coi điện gió ngoài khơi chỉ là dự án phát điện, chúng ta sẽ bỏ qua phần hạ tầng phía sau: cảng tiếp nhận, tập kết, lắp ráp thiết bị; tàu chuyên dụng; năng lực vận chuyển, lắp đặt ngoài khơi; cơ sở sửa chữa, bảo dưỡng; hệ thống cáp, trạm biến áp và lưới điện đủ sức truyền tải công suất về trung tâm phụ tải. Chính vì vậy, cần nghiên cứu phát triển cụm dự án điện gió ngoài khơi gắn với cụm cảng và phương án đấu nối, truyền tải dùng chung thay vì để từng dự án tự giải quyết hạ tầng. Nếu chỉ thu hút vốn xây dựng các trang trại gió, giá trị kinh tế sẽ dừng lại ở sản lượng điện; còn nếu đầu tư đồng thời tạo ra năng lực thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng, tác động với nền kinh tế sẽ lớn hơn nhiều. Luật điện gió ngoài khơi phải được viết để buộc sự phát triển song song của hệ sinh thái công nghiệp biển, không cho phép những dự án “chắp vá” thiếu hậu phương kỹ thuật.

Chuẩn bị không gian biển và hạ tầng truyền tải: phép thử đầu tiên của luật

Điện gió ngoài khơi trước hết là hoạt động sử dụng không gian biển, nơi một vùng gió tốt chưa chắc đã phù hợp nếu xung đột với hàng hải, quốc phòng – an ninh, thủy sản hoặc bảo tồn biển. Nhà đầu tư cần sự chắc chắn về không gian phát triển và dữ liệu khảo sát – từ gió, địa chất đáy biển đến khí tượng – hải văn – để lập báo cáo tiền khả thi, xác định tổng mức đầu tư và đánh giá rủi ro. Nghị quyết 218/NQ-CP đã đưa hoàn thiện thể chế và đổi mới quy hoạch không gian biển quốc gia vào chương trình hành động của Chính phủ, yêu cầu rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và cập nhật Quy hoạch không gian biển quốc gia. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng đặt ra khối lượng đầu tư lớn cho hệ thống truyền tải giai đoạn 2025-2030, với khoảng 12.944 km đường dây 500 kV và 15.307 km đường dây 220 kV xây dựng mới, đồng thời định hướng phát triển truyền tải điện một chiều cao áp (HVDC) trong các giai đoạn sau. Khi Nghị quyết 218/NQ-CP đã chuyển mục tiêu 6-10 GW thành chỉ tiêu hành động và giao Bộ Công Thương chủ trì, Luật điện gió ngoài khơi phải là công cụ để nhà nước chủ động xác định vùng tiềm năng, điều tra khảo sát, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu dùng chung, cũng như gắn dự án với hạ tầng truyền tải phù hợp. Nếu luật không giải quyết dứt điểm bài toán không gian và truyền tải, những con số quy hoạch đến 2035, 2050 – kể cả mục tiêu 15.000 MW điện gió ngoài khơi cho năng lượng mới năm 2035 và 240.000 MW năm 2050 – sẽ khó biến thành hiện thực.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!