600 GW điện gió ngoài khơi: lợi thế vàng chưa được chuyển thành lợi nhuận
Điện gió ngoài khơi và hydrogen xanh Việt Nam là hai trụ cột tiềm năng của năng lượng tái tạo biển, được kỳ vọng tạo nền tảng cho kinh tế biển xanh, gia tăng an ninh năng lượng và mở ra không gian xuất khẩu mới, nhưng đến nay chúng vẫn chủ yếu tồn tại trên giấy quy hoạch, chưa hình thành những dự án thương mại đủ lớn để tạo biến chuyển thực sự trong nền kinh tế quốc gia. World Bank ước tính Việt Nam có khoảng 600 GW tiềm năng điện gió ngoài khơi, thuộc nhóm cao của châu Á, vượt xa nhu cầu phát triển điện trong nhiều thập niên tới. Nghị quyết số 36-NQ/TW đặt nền móng cho chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, còn Nghị quyết 20-NQ/TW đưa điện gió ngoài khơi vào vị trí cấu phần quan trọng của chiến lược kinh tế biển và an ninh năng lượng quốc gia.

Chính sách đi trước thị trường: vì sao hydrogen xanh vẫn chưa cất cánh?
Điểm nghịch lý lớn nhất hiện nay là chính sách đã xác định hydrogen xanh là hướng đi chiến lược, nhưng thị trường hydrogen xanh Việt Nam vẫn ì ạch sau hơn hai năm triển khai. Việt Nam chưa có dự án hydrogen xanh quy mô thương mại vận hành, dù Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen theo Quyết định 165/QĐ-TTg đã ban hành hơn hai năm. Bức tranh hiện tại là khoảng 500.000 tấn/năm hydrogen nhưng toàn bộ là hydrogen xám và nâu, phục vụ sản xuất phân bón và lọc hóa dầu. Nghị quyết 20-NQ/TW coi phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới là định hướng quan trọng, trong khi chiến lược hydrogen đặt mục tiêu 100.000–500.000 tấn hydrogen phát thải thấp vào năm 2030 và 10–20 triệu tấn vào 2050. Khi mục tiêu đã rõ nhưng hạ tầng, công nghệ, vốn và thị trường tiêu thụ chưa theo kịp, ngành hydrogen xanh buộc phải đứng yên ở giai đoạn hình thành thay vì bước sang giai đoạn thương mại hóa.

Ba nút thắt: hạ tầng năng lượng sạch, chuẩn kỹ thuật và bài toán vốn
Nguyên nhân khiến hydrogen xanh Việt Nam chưa trở thành động lực kinh tế biển nằm ít ở tài nguyên, nhiều ở hạ tầng và thể chế. Năng lượng tái tạo biển từ điện gió ngoài khơi và điện mặt trời đã đủ lớn để làm nền tảng sản xuất hydrogen xanh, nhưng hạ tầng năng lượng sạch chưa theo kịp. Hydrogen cần hệ thống tồn trữ, vận chuyển và phân phối chuyên biệt, trong khi Việt Nam chưa có mạng lưới logistics và các trung tâm tiêu thụ đủ lớn để tạo nhu cầu ổn định. PGS.TS Phạm Hoàng Lương chỉ ra “điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là hạ tầng truyền tải, công nghệ điện phân và cơ chế giá cho hydrogen”. Khung pháp lý, gồm hệ thống TCVN, QCVN và cơ chế quản lý cho sản xuất, tồn trữ, vận chuyển, sử dụng hydrogen, vẫn đang trong quá trình xây dựng. Khi tiêu chuẩn kỹ thuật chưa hoàn thiện, chi phí sản xuất hydrogen xanh còn cao và cơ chế giá thiếu rõ ràng, dòng vốn khó chảy vào các dự án lớn, khiến chuỗi giá trị hydrogen xanh Việt Nam dừng lại ở vài dự án thí điểm công suất rất nhỏ.
Điện gió ngoài khơi: từ nguồn điện mới đến chuỗi giá trị hydrogen và amoniac xanh
Nếu được tổ chức đúng, điện gió ngoài khơi không chỉ là nguồn điện mới mà còn là nền tảng cho một hệ sinh thái năng lượng tái tạo biển với hydrogen xanh, amoniac xanh và các dẫn xuất khác. Quy hoạch điện VIII đặt mục tiêu 6–17 GW điện gió ngoài khơi giai đoạn 2030–2035, còn Nghị quyết 20-NQ/TW xác định đến 2030 đạt 6–10 GW. Tại Hội nghị Năng lượng gió châu Á – Thái Bình Dương tháng 6/2026, ông Tạ Đình Thi nhấn mạnh Việt Nam cần phát triển điện gió ngoài khơi gắn với các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ để hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Thực tế, một số doanh nghiệp nội địa như PTSC đã chứng minh năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu với việc xuất khẩu 33 chân đế điện gió ngoài khơi quy mô lớn vào tháng 6/2025 và chế tạo 10 trạm biến áp ngoài khơi tổng công suất khoảng 6 GW trong 5 năm. Tuy nhiên, dòng vốn quốc tế đang dịch chuyển sang chuỗi cung ứng hydrogen sạch, amoniac xanh, methanol xanh, trong khi Việt Nam vẫn loay hoay hoàn thiện tầng cơ bản của điện gió ngoài khơi và chưa gắn chặt nó với mục tiêu xuất khẩu hydrogen, amoniac và điện sạch.
Cơ hội đang khép dần: cần một chiến lược “hydrogen hóa” kinh tế biển
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu siết mạnh tiêu chuẩn phát thải, hydrogen không còn là câu chuyện riêng của ngành năng lượng mà liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của nhiều ngành sản xuất trong nền kinh tế carbon thấp. Quốc gia nào sớm xây dựng được chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi sẽ có lợi thế lớn trong cuộc cạnh tranh công nghệ xanh và công nghiệp năng lượng, đồng thời tạo việc làm chất lượng cao. Với hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế hơn một triệu km² và tiềm năng điện gió ngoài khơi thuộc nhóm thuận lợi nhất châu Á, Việt Nam có mọi điều kiện để biến hydrogen xanh thành trụ cột của kinh tế biển xanh. Nhưng hai năm sau Chiến lược hydrogen, phần còn thiếu vẫn là thị trường đủ lớn để tạo tín hiệu giá, thu hút đầu tư và kết nối chuỗi cung ứng. Nếu không sớm “hydrogen hóa” chiến lược kinh tế biển – nghĩa là coi hydrogen xanh như sản phẩm xuất khẩu chủ lực gắn với điện gió ngoài khơi – Việt Nam sẽ bị tụt lại trong cuộc tái cấu trúc thương mại toàn cầu theo hướng xanh và mất đi thế chủ động trên không gian biển vốn được xem là lợi thế hiếm có.





