Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Những chương trình học tập miễn phí cho trẻ em khó khăn: Cơ hội và thách thức

Những chương trình học tập miễn phí cho trẻ em khó khăn: Cơ hội và thách thức
Sở thích|Kiến thức nuôi con

Giáo dục miễn phí cho trẻ em khó khăn: không chỉ là chuyện vài suất hỗ trợ

Giáo dục miễn phí trẻ em là tập hợp những chương trình học tập không thu học phí, được thiết kế riêng cho trẻ em khó khăn nhằm bảo đảm các em được tiếp cận kiến thức cơ bản, ổn định điểm tựa gia đình – nhà trường và thu hẹp khoảng cách cơ hội giữa khu vực đô thị, nông thôn và giáo dục vùng biên, thay vì để điều kiện kinh tế quyết định tương lai trẻ nhỏ.

Điểm đáng nói là những mô hình này không đến từ một nguồn lực duy nhất. Ở thành phố, đó là các lớp học do những người trẻ tự xoay xở từng chiếc bàn, viên phấn để mở lớp.Ở vùng núi, vùng biên, lại là chính quyền, trường học và người dân cùng tìm cách phổ cập mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi, đồng thời duy trì chất lượng cho nhóm 4 – 5 tuổi. Chúng cùng chia sẻ một thông điệp: nếu chờ đủ ngân sách rồi mới hành động, sẽ mất cả một thế hệ.

Một lớp học nhỏ ở đô thị và sức mạnh của câu nói “mình có gì thì xài đó”

Tại một khu phố lao động ở Tân Đông Hiệp, câu chuyện giáo dục miễn phí trẻ em bắt đầu từ nỗi trăn trở rất đời thường: muốn làm thiện nguyện nhưng không có tiền để phát quà hay nấu ăn mỗi ngày. Phạm Mỹ Tiên – tốt nghiệp luật, đi làm marketing – chọn cách dùng thứ duy nhất mình có nhiều nhất: kiến thức. Qua nhiều tháng dọn dẹp căn phòng cũ, sơn tường, mua dần từng bộ bàn ghế, bảng, dụng cụ học tập, lớp học miễn phí với khoảng 20 học sinh từ lớp 1 đến lớp 6 mới thành hình.

Đây không phải một dự án được tài trợ bài bản, mà là chương trình học tập dựa vào ý chí của vài người trẻ và niềm tin của khu phố. Tiên mất nửa tháng kết nối với địa phương để bảo đảm lớp đến đúng với những trẻ em khó khăn nhất. Buổi học bắt đầu lúc 18 giờ, kéo dài đến 20 giờ, có hôm cô ở lại đến 21 giờ để kèm thêm. Khi một người mẹ kể rằng con mình “ngoan hơn, học giỏi hơn, tự giác chuẩn bị sách vở qua lớp học thêm đúng giờ”, đó là minh chứng rõ ràng cho sức nặng xã hội của những giờ dạy không lương.

Giáo dục vùng biên: khi chính quyền nhận ra lời kêu gọi là chưa đủ

Nếu ở đô thị, trở ngại chính là thiếu tiền và thời gian của người trẻ, thì ở Tri Lễ – một xã vùng cao đặc biệt khó khăn của Lạng Sơn – vấn đề lại nằm ở mô hình gia đình và nhận thức. Kinh tế gắn với nông – lâm nghiệp, thanh niên rời quê lên thành phố làm việc, việc chăm sóc con cái chủ yếu đặt lên vai ông bà. Nhiều phụ huynh vẫn mang tâm lý phó mặc hoàn toàn việc nuôi dạy con cho nhà trường, trong khi mối liên kết gia đình – trường lớp thường xuyên bị gián đoạn.

Chính quyền địa phương đã thẳng thắn thừa nhận không thể trông chờ vào các lời kêu gọi chung chung để bảo đảm trẻ đi học đầy đủ và nâng chất lượng mầm non. Ủy ban xã Tri Lễ chỉ đạo phòng văn hóa – xã hội và các trường mầm non phổ biến hệ thống văn bản hướng dẫn đến giáo viên, nhân viên và phụ huynh, đặt mục tiêu phổ cập mầm non cho trẻ 3–5 tuổi và duy trì, nâng chất cho trẻ 4–5 tuổi. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ từ 2 tuổi và hỗ trợ học phí được triển khai kịp thời, đầy đủ, minh bạch, qua đó tạo niềm tin và sự chủ động phối hợp từ phía gia đình.

Những chương trình học tập miễn phí cho trẻ em khó khăn: Cơ hội và thách thức

Khi cộng đồng là “nhà đầu tư” lớn nhất cho trường lớp vùng khó

Cả lớp học nhỏ ở Tân Phước 2 lẫn những trường mầm non ở Tri Lễ đều cho thấy: giáo dục miễn phí trẻ em không thể tồn tại nếu thiếu lòng tin và sự tham gia của cộng đồng. Ở khu phố, Tiên không chỉ dạy, mà còn cùng người nhà tự làm tranh, bảng trang trí, tự chuẩn bị và gói quà tổng kết năm học cho học sinh. Bí thư chi bộ khu phố ủng hộ và tạo điều kiện để lớp duy trì, tức là chính tổ dân phố trở thành điểm tựa thể chế cho một sáng kiến tự phát.

Ở Tri Lễ, câu chuyện cộng đồng mang màu sắc khác: chính quyền rà soát cơ sở vật chất, phòng học, thiết bị, đồ chơi, rồi đặt lộ trình đầu tư từng năm, phấn đấu đến cuối năm 2027 có 100% trường mầm non đạt chuẩn cơ sở vật chất để được công nhận hoàn thành phổ cập. Họ vừa tiếp tục tuyển dụng và gửi giáo viên đi bồi dưỡng, vừa bảo đảm chế độ, chính sách để giữ chân đội ngũ. Khi người dân thấy quyền lợi con em mình được bảo đảm công khai, họ có lý do để tin tưởng và đồng hành, từ đóng góp nguồn lực nhỏ lẻ đến đưa đón con đến lớp đều đặn.

Cơ hội thu hẹp bất bình đẳng và bài toán duy trì lâu dài

Điểm mạnh lớn nhất của các chương trình học tập như thế là chúng đi thẳng vào nơi bất bình đẳng diễn ra rõ nhất: khu lao động nghèo ở đô thị và giáo dục vùng biên, vùng cao. Khi một đứa trẻ sau giờ bán vé số vẫn có chỗ ngồi vào bàn, mở tập sách ra học đến 20 giờ, đó là một bước dịch chuyển cụ thể trong cán cân cơ hội. Khi trẻ vùng núi được hỗ trợ ăn trưa và miễn, giảm học phí để đến lớp mầm non, đó là nền tảng cho giảm nghèo theo chiều dài cả đời người.

Nhưng thách thức cũng rõ ràng: mô hình dựa vào cá nhân như lớp của Tiên dễ bị ảnh hưởng bởi lịch làm việc, sức khỏe, chi phí duy trì; còn hệ thống công như Tri Lễ phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư hằng năm và sự kiên định với mục tiêu phổ cập. Điều cần thiết là nối hai cấp này lại: chính sách công nhận, hỗ trợ các sáng kiến giáo dục miễn phí trẻ em ở đô thị; và cơ chế để cộng đồng tiếp tục giám sát, đồng hành cùng chính quyền ở vùng biên. Nếu coi những lớp học nhỏ và trường mầm non vùng cao chỉ là chuyện “tạm thời cho đỡ khổ”, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội tái thiết cấu trúc công bằng của cả hệ thống.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!