Hồi hương di sản văn hóa: từ nỗ lực đơn lẻ đến chiến lược quốc gia
Hồi hương di sản văn hóa là quá trình đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, bảo vật quốc gia Việt Nam và cổ vật quý hiếm đang thất lạc hoặc lưu giữ ở nước ngoài trở về quê hương, đồng thời tạo cơ chế để chúng được bảo tồn, nghiên cứu và tiếp cận công chúng như một phần sống động của ký ức và bản sắc dân tộc. Ngày 10/9, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương chủ trì cuộc họp Ban soạn thảo và Tổ Biên tập xây dựng Đề án đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa Việt Nam đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước. Đây không còn là câu chuyện mua được hiện vật nào hay hiện vật đó, mà là bước chuyển sang một chiến lược quốc gia có hệ thống về hồi hương di sản văn hóa, gắn trực tiếp với mục tiêu khẳng định vị thế và sức mạnh văn hóa trong giai đoạn mới.

Khoảng trống bản sắc và yêu cầu cấp bách phải hồi hương
Trong dòng chảy lịch sử, chiến tranh, khủng hoảng và các biến động trước khi đất nước thống nhất đã khiến một bộ phận lớn bảo vật quốc gia Việt Nam, cổ vật quý hiếm và tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao bị đưa ra nước ngoài. Chúng hiện diện trong bảo tàng, bộ sưu tập tư nhân hoặc thị trường nghệ thuật quốc tế, tạo nên những khoảng trống khó lấp đầy trong bức tranh lịch sử và mỹ thuật dân tộc. Dù từng hồi hương được những hiện vật biểu tượng như xe kéo của vua Thành Thái đang trưng bày tại Hoàng thành Huế, được đấu giá thành công và đưa về nước năm 2015, Cục Di sản Văn hóa thẳng thắn thừa nhận số hiện vật hồi hương “chỉ là một phần vô cùng nhỏ” so với khối di sản văn hóa đã mất tích hoặc bị đưa ra nước ngoài. Nếu Việt Nam không chủ động thiết lập cơ chế hồi hương di sản văn hóa ở cấp quốc gia, bản sắc và ký ức tập thể sẽ tiếp tục phụ thuộc vào kho tàng lưu giữ ở nước khác, thay vì được kể từ chính lãnh thổ của mình.

Định giá kinh tế di sản: biến ký ức thành vốn cho phát triển
Song song với hồi hương di sản văn hóa, Cục Di sản Văn hóa vừa tổ chức cuộc họp xin ý kiến về Đề án “Định giá kinh tế di sản, TEV, lượng hóa giá trị kinh tế tổng thể di sản thế giới”. Đề án này nhìn di sản như một dạng vốn văn hóa, vốn tự nhiên và vốn xã hội, có khả năng sinh ra giá trị kinh tế, xã hội, môi trường, sinh kế cộng đồng và sức mạnh mềm lâu dài. Một phát biểu có thể trích dẫn từ nghiên cứu thực nghiệm cho thấy: “Lượng giá Tổng giá trị kinh tế Quần thể danh thắng Tràng An năm 2025 cho thấy giá trị văn hóa chiếm 49,31%, giá trị tự nhiên 38,99% và hệ thống cư trú 11,71%”. Cách tiếp cận định giá kinh tế di sản giúp phân biệt rõ tổng lợi ích di sản mang lại với phần doanh thu du lịch hay dịch vụ văn hóa đơn thuần, vốn chỉ phản ánh một lát cắt nhỏ của giá trị sử dụng. Khi tổng giá trị kinh tế (TEV) được lượng hóa, bảo tồn di sản không còn bị coi là “chi phí”, mà trở thành một dạng đầu tư văn hóa cho phát triển bền vững.

Từ bảo vật quốc gia đến hệ sinh thái kinh tế di sản
Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới được UNESCO công nhận, là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, du lịch, sinh kế cộng đồng, bảo vệ môi trường và nâng cao vị thế quốc gia. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt rõ yêu cầu gắn đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển bền vững, hình thành đô thị di sản và xây dựng mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” tại các khu di sản thế giới. Vì thế, Đề án định giá kinh tế di sản không chỉ là bài toán kỹ thuật, mà là nền tảng cho các quyết định phân bổ ngân sách, lựa chọn dự án, lập quy hoạch đô thị, phát triển du lịch và thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng. Tám đề án thành phần dự kiến triển khai tại Hoàng thành Thăng Long, Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà, Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc, Thành nhà Hồ, Phong Nha – Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn. Nếu được thực hiện đến nơi đến chốn, các không gian di sản này sẽ trở thành những “phòng thí nghiệm” sống cho mô hình kinh tế di sản, nơi bảo vật quốc gia và cổ vật quý hiếm không chỉ được bảo tồn, mà còn nuôi dưỡng sinh kế và bản sắc.

Đưa di sản trở lại đời sống: thử thách của giai đoạn tiếp theo
Một rủi ro lớn của chiến lược hồi hương di sản văn hóa là dừng ở khâu “đem về để cất kho”. Như đã được nhấn mạnh, đưa cổ vật quý hiếm về nước nhưng ít cơ hội tiếp cận công chúng thì hành trình hồi hương vẫn chưa trọn vẹn. Di sản chỉ thực sự sống lại khi được đặt trong không gian trưng bày có câu chuyện, có ngữ cảnh và cách diễn giải phù hợp, để trở thành cầu nối giữa thế hệ hôm nay với những gì cha ông đã tạo dựng. Cuộc họp do Thứ trưởng Hoàng Đạo Cương chủ trì cũng yêu cầu Ban Soạn thảo, Tổ Biên tập tiếp tục rà soát nội dung, lấy ý kiến để hoàn thiện Đề án trước khi trình Chính phủ, bảo đảm đáp ứng mục tiêu và yêu cầu đặt ra. Trọng tâm của giai đoạn tiếp theo không chỉ là “hồi hương di sản văn hóa” cho đủ số lượng, mà là xây dựng khung định giá kinh tế di sản để mỗi bảo vật quốc gia Việt Nam và tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao trở thành phần hữu cơ của hệ sinh thái văn hóa – kinh tế. Khi đó, bảo tồn cổ vật quý hiếm sẽ song hành với mở rộng tiếp cận, phát triển giáo dục, nghiên cứu và sinh kế cộng đồng, thay vì bị khóa trong kho chuyên môn.







